Hiển thị các bài đăng có nhãn Chuyên luận. Hiển thị tất cả bài đăng

Điện Biên – Tiềm năng du lịch lớn cần được khai thác có hiệu quả




Lợi thế du lịch đầu tiên của Điện Biên chính là cụm di tích lịch sử kháng chiến chống Pháp 75 năm trước, mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu. Hiện nay, cụm di tích lịch sử của chiến dịch đã được trùng tu, bảo tồn và đưa vào khai thác du lịch có hiệu quả.
Du khách theo quốc lộ 6, qua địa phận tỉnh Sơn La tới Tuần Giáo đã nghe văng vẳng câu thơ “Dốc Pha Đin chị gánh anh thồ” của một thời hào hùng dân công vận tải chi viện cho chiến trường Điện Biên. “Dốc Pha Đin”- đèo Pha Đin (Phạ Đin) theo tiếng địa phương là trời và đất là địa phận giáp ranh 2 tỉnh Điện Biên và Sơn La được phân chia bởi cuộc đua ngựa trong truyền thuyết của người Mông. Nơi đây đã chứng kiến bao câu chuyện bi tráng của một thời oanh liệt.
Qua Pha Đin xuống vùng đất Tuần Giáo, Mường Ẳng ta lại được nghe câu chuyện về vùng hậu cứ kiên trung, bền bỉ của đồng bào Thái, Mông, Dao…, cung cấp lương thực, che giấu bộ đội, vũ khí trong những năm kháng chiến. Tới Nà Tấu, cách Điện Biên 30km, từ trên xe ô tô khách tham quan sẽ nhìn thấy một phần tuyến đường kéo pháo 105mm băng rừng, vượt núi năm nào. Nghe đâu đó có âm vang “Hò dô ta nào, kéo pháo ta vượt qua đèo…”, thấp thoáng trong núi cao, mây mù, đường trơn, dốc thẳm lại gợi lên bóng dáng người anh hùng Tô Vĩnh Diện lấy thân mình chèn pháo… Qua Mường Phăng, ta lại đến khu rừng nguyên sinh nơi có Sở chỉ huy chiến dịch để nhớ lại ngày nào giữa âm u rừng thiêng, Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp, Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái… bàn kế hoạch đánh Điện Biên Phủ - trận quyết chiến chiến lược đánh dấu sự thắng lợi vĩ đại của cách mạng và sự tan rã của chủ nghĩa thực dân kiểu cũ, tạo đà cho toàn dân tộc ta đến ngày toàn thắng. Vào tới lòng chảo Điện Biên Phủ, câu chuyện lịch sử oai hùng được tái hiện thật rõ nét qua những địa danh Đồi A1, D1, C1, Độc Lập, Bản Kéo, cầu Mường Thanh, hầm Đờ Cát… Từ cảm giác tự hào dân tộc, rồi ai cũng chợt chùng mình, bâng khuâng, xúc động, bồi hồi khi thắp nén hương trầm ở Nghĩa trang Liệt sĩ Điện Biên Phủ, Nghĩa trang Độc Lập, Bia hận thù Noong Nhai…. nơi hàng nghìn chiến sĩ, đồng bào đã anh dũng ngã xuống mà hầu hết là chưa biết tên.
Đến Điện Biên hôm nay, du khách không chỉ để tham quan di tích lịch sử, tri ân anh hùng liệt sĩ mà còn được tận hưởng, lĩnh hội cả một không gian đầy bản sắc văn hóa lâu đời của 21 dân tộc anh em.  Miền đất này có một bề dày truyền thống văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc được thể hiện qua kho tàng văn học của các dân tộc với nhiều thể loại, đề tài phản ánh thiên nhiên, đất nước, con người Điện Biên Phủ. Những tác phẩm: Truyện kể bản Mường, Xống chụ xon xao... từ lâu được nhiều người biết đến, yêu mến và góp phần xứng đáng làm giàu, làm phong phú kho tàng văn hóa các dân tộc Việt Nam.
Xứ Mường Thanh (Điện Biên Phủ) được mệnh danh là vựa lúa trù phú nhất miền Tây Bắc qua câu ca Nhất Thanh, Nhì Lò, Tam Than, Tứ Tấc. Đây là vùng đất cư trú lâu đời của đồng bào Thái với những đặc sản văn hóa nhà sàn, múa xòe, ném còn, cơm lam, cá suối, rêu đá, măng đắng, sâu chít… Ai đến Mường Thanh để ngất ngây men rượu, chuếnh choáng vòng xòe, say mê điệu sạp cùng những cô gái Thái ở Phiêng Lơi, Che Căn, Phiềng Quái… Rồi lại không thể bỏ lỡ đêm ngủ nhà sàn, ngày tắm suối khoáng ở bản U Va, Thanh Luông, Hua Pe… Tháng 3 mùa hoa ban nở, du khách lại ngược núi, ngược đèo đến Tủa Chùa ngắm rừng hoa ban bung trắng ở Tả Xi Láng để hiểu thêm về truyền thuyết “Hoa ban nở thành người con gái Thái”…
Đến Điện Biên lại phải qua Điện Biên Đông thăm thượng nguồn sông Mã, qua Mường Lay ghé Khu phế tích dinh thự Vua Thái Đèo Văn Long, dừng chân ở Tuần Giáo dự lễ hội Lồng Tồng của người Mông nơi đây để đánh cù, bắn nỏ, đẩy gậy… Đặc biệt, đến thăm Điện Biên ai cũng muốn đi vào tháng 12, khi hoa cúc quỳ nở miên man khắp núi rừng, được chạm tay vào cột mốc số 0 ở ngã ba biên giới A Pa Chải (Mường Nhé), nơi một tiếng gà gáy ba nước nghe thấy (Việt-Lào-Trung), nơi mặt trời lặn sau cùng trên lãnh thổ Việt Nam (cực Tây Tổ quốc), nơi đặt nét bút vẽ bản đồ nước Việt…Hơn thế nữa, ai đến A Pa Chải cũng muốn được ăn tết Hồ Sự Trà và nghe câu chuyện của cộng đồng người Hà Nhì hàng trăm năm kiên cường bảo vệ biên cương đất nước…
Mảnh đất Điện Biên anh hùng năm xưa, phát triển mạnh mẽ hôm nay còn thật nhiều những tiềm năng du lịch chưa được khai thác hiệu quả. Du lịch văn hóa - lịch sử cần một cơ chế liên hoàn đồng bộ, một cách làm sáng tạo độc đáo để quảng bá một hình ảnh Điện Biên lịch sử và đầy ắp bản sắc, là điểm nhấn đặc biệt miền Tây Bắc.

Nguồn: website QĐND
Chuyên mục:

Hội An - hình mẫu lý tưởng trong bảo tồn và khai thác di sản cho phát triển du lịch




Từ một thị xã nhỏ bé không có tiếng vang trong lịch sử hiện đại, Hội An được cả thế giới quan tâm sau sự kiện khu phố cổ Hội An được ghi danh là Di sản văn hóa thế giới năm 1999. Từ khi được ghi danh, du lịch ở Hội An như được tiếp thêm luồng sinh khí mới.
Theo thống kê của Phòng Thương mại và Du lịch TP.Hội An, năm 2010, ngành du lịch - dịch vụ chiếm hơn 70% tổng GDP của thành phố. Tổng lượng khách tham quan Hội An từ năm 2006-2010 đạt gần 3,5 triệu lượt người, tốc độ tăng bình quân 11,02%/năm. Riêng trong quý 1/2011 đã có 376.000 lượt khách du lịch tới Hội An, tăng 9,48% so với cùng kỳ năm 2010.
Để thu hút ngày càng đông du khách, Hội An đã và đang tập trung khai thác loại hình du lịch di sản văn hóa, đặc biệt là du lịch cộng đồng. Ở đây, mỗi ngôi nhà, mỗi góc phố, mỗi con đường đều gắn với du lịch. Vẻ đẹp của hệ thống kiến trúc, đặc biệt là kiến trúc gỗ (nhà gỗ, cầu gỗ), nếp phố, góc phố với những căn nhà phố lô xô đã và đang làm say lòng hàng triệu du khách cũng như các nhà nghiên cứu lịch sử văn hóa, kiến trúc.
Với điều kiện địa lý nằm gọn trên bờ bắc Cửa Đại, nơi cuối nguồn đổ ra biển của sông Thu Bồn - một điểm đến hấp dẫn trên con đường du lịch di sản miền Trung nên Hội An có điều kiện để phát triển du lịch sinh thái. Khách du lịch đến Hội An mê tít cái đặc trưng sinh thái của vùng đất hợp lưu này: Xen giữa các kênh, lạch chằng chịt là rừng dừa nước, những làng quê, phố thị khá yên ả; Cù Lao Chàm - khu dự trữ sinh quyển thế giới với các hệ sinh thái điển hình là hệ sinh thái biển với các loài tôm, cá, thân mềm, rạn san hô, chim biển; rừng ngập mặn Cẩm Thanhvới địa danh quen thuộc rừng dừa Bảy Mẫu, một cấu thành của khu dự trữ sinh quyển thế giới đã và đang được định hướng phát triển thành làng quê sinh thái đặc thù nhằm gìn giữ và khai thác bền vững các giá trị tự nhiên vốn có; Cẩm Kim với làng nghề mộc truyền thống Kim Bồng đã tạo nên sức hấp dẫn và động lực phát triển cho du lịch vùng đất này.
Người dân đô thị cổ còn phát huy một cách hiệu quả di sản văn hóa phi vật thể trong các hoạt động lễ hội, tín ngưỡng, sinh hoạt văn hóa dân gian để phục vụ du khách… Hơn thế nữa, cho đến nay, đô thị cổ Hội An vẫn là môi trường sinh sống của hàng chục ngàn người, mang ý nghĩa như một bảo tàng sống về kiến trúc, về quy hoạch đô thị, về lối sống đô thị. Nếp sống giản dị, hiếu khách, thuần hậu, nếp ẩm thực truyền thống, dân dã níu giữ con người bằng các hương vị quê hương như: Cao lầu, hoành thánh, mỳ Quảng, bắp nếp, hến trộn, bánh đập, bánh ít, bánh tráng... Tất cả những điều đó đã tạo nên sức hấp dẫn của Hội An, góp phần bảo tồn tốt những giá trị vật thể và phi vật thể sinh ra từ trong quá khứ, lớn lên và phát triển trong hiện tại. Cũng bởi vậy, Hội An được coi như một hình mẫu lý tưởng trong việc bảo tồn và khai thác di sản cho phát triển du lịch.
Xuất phát từ nền tảng văn hóa tự nhiên, cùng với xu thế phát triển của du lịch thế giới với dòng khách du lịch hướng về khám phá các nền văn hóa, khám phá thiên nhiên sinh thái, nên mục tiêu phát triển du lịch Hội An thời gian tới hướng đến trở thành một điểm đến chất lượng cao, bền vững. Để thực hiện được mục tiêu này, Hội An nói riêng và du lịch Quảng Nam nói chung tiếp tục phát triển trên cơ sở bảo tồn, làm giàu tài nguyên văn hóa môi trường của địa phương và khu vực. Phát triển du lịch phải đóng góp vào việc bảo tồn di sản và các giá trị tài nguyên tự nhiên, văn hóa, lịch sử và môi trường. Đồng thời phải có kiểm soát chống sự xói mòn, xuống cấp của tài nguyên văn hóa, lịch sử, tài nguyên tự nhiên.Hơn thế, phát triển phải nhằm nâng cao lợi ích cộng đồng và chia sẻ trách nhiệm, thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng./.

Nguồn: VEN
Chuyên mục:

Hoàng Su Phì: Sau 3 năm thực hiện Nghị quyết chuyên đề phát triển du lịch




Hoàng Su Phì là huyện vùng cao núi đất phía Tây của tỉnh Hà Giang, nằm trên tuyến du lịch Bắc Hà, tỉnh Lào Cai- Hà Giang- Cao Bằng. Toàn huyện có 25 xã, thị trấn với 198 thôn bản, tổ dân phố. Đây là nơi sinh sống của 12 dân tộc anh em, trong đó dân tộc Dao chiếm 22,72%; dân tộc Nùng chiếm 38,45%; Mông chiếm 13,42%, còn lại là các dân tộc khác.
Sự đa dạng của dân tộc gắn liền với những tinh hoa của đồng bào vùng cao có tính kế thừa phong tục, tập quán truyền thống văn hóa lễ hội mang đậm bản sắc văn hóa riêng như Lễ hội Cù Tê của dân tộc La Chí; cấp sắc, nhảy lửa, cầu mùa của dân tộc Dao đỏ; lồng tồng của dân tộc Tày; cúng rừng của dân tộc Nùng. Bên cạnh đó, với đặc điểm tự nhiên là dải kéo dài của dãy Hoa Nam (Trung Quốc) đã kiến tạo nên điều kiện địa hình của huyện với những dãy núi non hùng vĩ, như dãy núi Chiêu Lầu Thi còn được gọi là “chín tầng thang” nằm trong dãy Tây Côn Lĩnh có độ cao trên 2.400m so với mặt nước biển, với nhiều danh thắng như Thung lũng hoa đào, rừng Pơ Mu tự nhiên, vùng chè Shan cổ thụ đặc sản. Ngoài ra, trên địa bàn huyện Hoàng Su Phì còn có nhiều mỏ nước khoáng, nước nóng có tác dụng phục vụ sinh hoạt và chữa bệnh; những cánh đồng, ruộng bậc thang lúa chín vàng uốn lượn; những nương chè Shan tuyết cổ thụ cả trăm năm tuổi xanh mướt trên những triền núi cao, tạo cho Hoàng Su Phì cảnh quan làm say đắm lòng người... Nhận rõ những tiềm năng to lớn thiên nhiên ban tặng, huyện Hoàng Su Phì đã xây dựng Nghị quyết chuyên đề về phát triển du lịch giai đoạn 2007- 2010, hướng tới 2020. Sau 3 năm triển khai thực hiện đã đạt được những kết quả khả quan, có tính định hướng cho phát triển du lịch trong những năm tiếp theo.
Ngay sau khi có nghị quyết, huyện đã xây dựng và công bố bản đồ quy hoạch hoàn chỉnh về phát triển du lịch - dịch vụ; xây dựng các tua tuyến và các điểm dừng chân để liên kết giữa các tuyến, các điểm du lịch trong ngoài huyện, cụ thể đã xây dựng tuyến Vinh Quang- Đản Ván- Túng Sán- Thượng Sơn (Vị Xuyên); tuyến Thông Nguyên- Nam Sơn- Bản Luộc- Quang Vinh; Thông Nguyên- Nậm Khoà- Tiên Nguyên (Quang Bình); Vinh Quang- Hoàng Lao Chải- Trung Thịnh (Xín Mần); điểm du lịch mạo hiểm khám phá đỉnh núi Chiêu Lầu Thi cao 2.402m tại xã Hồ Thầu; quy hoạch các điểm dừng chân gồm: Điểm km 17 đường Bắc Quang- Hoàng Su Phì; thôn Làng Giang (Thông Nguyên); thôn Pố Lủng (Thị trấn Vinh Quang). Căn cứ bản quy hoạch phát triển du lịch của huyện đến năm 2020, dựa trên cơ sở đặc thù về văn hoá truyền thống của từng dân tộc, từng địa bàn, những đặc điểm khác biệt về văn hoá, sinh thái, huyện đã xây dựng các làng văn hoá du lịch cộng đồng nằm trên các tuyến du lịch tạo sự liên kết giữa các điểm du lịch như: Làng Văn hoá, Du lịch thôn Làng Giang, Nậm Hồng, Phìn Hồ, Giàng Thượng xã Thông Nguyên xung quanh khu du lịch PanHous; triển khai 4 làng văn hoá du lịch tại các xã Nam Sơn, Nậm Ty, Hồ Thầu, Bản Péo. Đồng thời đưa vào quy hoạch xây dựng các làng văn hoá du lịch Bản Luốc nằm trên tuyến du lịch đi bộ Thông Nguyên- Nam Sơn- Bản Luốc- Vinh Quang; làng văn hoá du lịch Chúng Phùng trên đỉnh Tây Côn Lĩnh xã Túng Sán; làng văn hoá Coóc Be, xã Nàng Đôn; Bố Lũng (thị trấn Vinh Quang). Tính đến hết năm 2010, toàn huyện Hoàng Su Phì có 96 làng văn hoá, với 7.850 gia đình được công nhận danh hiệu gia đình văn hoá. Cùng với việc xây dựng các làng văn hoá du lịch, tại các thôn bản chọn mỗi thôn có từ 3- 5 hộ gia đình có trưng bày các sản phẩm, làm nơi ăn nghỉ phục vụ du khách; đồng thời xây dựng mỗi thôn một đội văn nghệ phục vụ cho khách du lịch... Trong xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác du lịch, huyện đã liên kết với Công ty Du lịch khám phá Khánh Hoà trong việc đào tạo đội ngũ hướng dẫn viên, phiên dịch viên phục vụ công tác du lịch, hiện có 15 nhân viên được đào tạo và công tác tại khu du lịch PanHous, xã Thông Nguyên; từ 2008- 2010, huyện đã phối hợp với Phòng Quản lý du lịch- Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch mở 2 lớp tập huấn về nghiệp vụ du lịch cho 105 học viên là cán bộ làm công tác du lịch, trưởng thôn bản, các hộ gia đình trong vùng du lịch; tổ chức các chuyến đi thăm quan, học tập tại các khu du lịch trong, ngoài tỉnh.
Để nâng cao chất lượng, sản phẩn du lịch, huyện xây dựng, củng cố hoạt động của 8 đội văn nghệ quần chúng thuộc các làng văn hoá; khai thác, trình diễn các lễ hội dân gian như: Lễ hội cấp sắc của dân tộc Dao; Lễ hội Cù Tê của dân tộc La Chí; khôi phục các trò chơi dân gian, thể thao truyền thống; quy hoạch phát triển các làng nghề truyền thống như Lò rèn đúc tại tại làng văn hoá du lịch thôn Lê Hồng Phong, xã Nam Sơn; chạm khắc bạc tại Nàng Đôn; dệt thổ cẩm, may trang phục tại các xã Hồ Thầu, Nam Sơn, Nậm Ty, trong đó riêng làng nghề truyền thống dệt thổ cẩm và may trang phục tại thôn Đoàn Kết, xã Thông Nguyên được đầu tư trên 150 triệu đồng từ nguồn vốn của Dự án Chia sẻ.
Tuy nhiên, trong 3 năm triển khai thực hiện Nghị quyết chuyên đề về phát triển du lịch trên địa bàn huyện Hoàng su Phì còn bộc lộ những hạn chế tồn tại như: Việc phát triển du lịch của huyện chưa đồng đều, chủ yếu tập trung vào du lịch sinh thái; hoạt động du lịch của huyện có xuất phát điểm thấp, hệ thống cơ sở vật chất và cơ sở hạ tầng chưa được đầu tư đúng mức, đường giao thông, các nhà hàng, khách sạn phục vụ du lịch thiếu, chưa phá huy được tiềm năng thế mạnh của địa phương; sản phẩm du lịch còn nghèo nàn, chưa thu hút được khách du lịch đến ở lâu dài; đội ngũ cán bộ làm công tác du lịch chưa đáp ứng được yêu cầu; việc liên kết giữa huyện với các Công ty du lịch chưa được chặt chẽ nên chưa hình thành rõ nét, chưa phát huy được hiệu quả của các tua, tuyến du lịch.
Với mục tiêu đưa ngành du lịch trở thành ngành chính, là nhân tố thúc đẩy các ngành nghề khác phát triển, huyện Hoàng Su Phì đưa ra một số giải pháp trọng tâm, thực hiện theo từng giai đoạn. Theo đó từ nay tới 2015, huyện sẽ tập trung đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng như mở mới, nâng cấp hệ thống đường giao thông gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới; đẩy mạnh việc quảng bá tiềm năng du lịch; tăng cường kêu gọi, thu hút đầu tư, liên doanh, liên kết với các Công ty lữ hành du lịch; mở mới các tua, tuyến du lịch theo quy hoạch; xây dựng, củng cố hoạt động của các đội văn nghệ theo hướng chuyên sâu nhằm bảo tồn, khai thác vốn văn hoá truyền thống của các dân tộc theo đặc thù của từng dân tộc, vùng miền; xây dựng các sản phẩm du lịch mang tính đặc trưng; triển khai lập hồ sơ đề nghị công nhận di sản văn hoá cấp Quốc gia đối vơi thung lũng ruộng bậc thang thôn Suối Thầu, xã Bản Luốc; thôn Hạ B, xã Sán Xả Hồ và di tích công trình kiến trúc quân sự đồi Lô Cốt (thị trấn Vinh Quang).

Nguồn: Báo Hà Giang
Chuyên mục:

“Yếu tố sống còn của du lịch là qui hoạch”




Nhân Năm Du lịch quốc gia 2011 được tổ chức tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ do tỉnh Phú Yên chủ trì, Báo Du lịch đã có cuộc trao đổi ngắn với GS.TS Trịnh Quang Phú, Viện trưởng Viện NCPT Phương Đông (TP.HCM) về việc phát triển du lịch tại khu vực này.
PV: Nhận xét của ông về việc phát triển du lịch ở khu vực Nam Trung bộ nói chung và Phú Yên nói riêng?
GS.TS Trịnh Quang Phú: Theo cảm nhận chung của tôi: Nếu nói rộng ra từ Quảng Nam đến Bình Thuận là 6 tỉnh, thì Bình Thuận và Khánh Hòa phát triển, Quảng Nam có Hội An nổi tiếng. Tuy nhiên, cả 3 nơi này đều rơi vào phát triển theo kiểu tự phát, nghĩa là nhà đầu tư xin đầu tư ở đâu thì cho ở đó chứ không theo một qui hoạch du lịch có tầm nhìn lâu dài. Chính do vậy nên bị chen lấn nhau, và dẫn đến khó khăn về môi trường, dẫn đến manh mún mà Mũi Né là điển hình. Bất cập này sẽ đánh mất thế bền vững và cũng không thể cạnh tranh quốc tế lâu dài.
Cả 6 tỉnh miền Trung, du lịch vẫn chưa gọi là phát triển thành một ngành công nghiệp dịch vụ, mới phát triển ở một số địa phương như Nha Trang, Hội An, Phan Thiết. Nhiều nơi vẫn còn hoang sơ, các “nàng tiên” vẫn chưa được đánh thức.
PV: Vậy, theo ông ngành Du lịch khu vực này nên phát triển theo hướng nào?
GS.TS Trịnh Quang Phú: Dưới góc độ của một người nghiên cứu kinh tế, tôi xin đưa ra một số ý kiến như sau:
Trước nhất, theo tôi phải xác định cho được vị thế của du lịch, thực sự xem nó là ngành công nghiệp không khói, là “con gà đẻ trứng vàng”. Nó phải có vị trí ngang bằng với việc phát triển các ngành kinh tế khác. Phát triển cơ sở du lịch, khu sinh thái, khách sạn, khu vui chơi giải trí, điểm du lịch, thắng cảnh, đương nhiên phải phát triển cơ sở hạ tầng, nông nghiệp, hải sản và các sản phẩm công nghiệp tiêu dùng, lưu niệm v.v… Như vậy du lịch sẽ kéo theo nhiều ngành khác phát triển, trong đó có việc phát triển dân trí, và văn hóa… Phát triển du lịch dịch vụ còn có nghĩa là xuất khẩu tại chỗ. Khi du lịch được xác định đúng thì Nhà nước chỉ đạo và xây dựng hạ tầng, nhất là sân bay, bến cảng, đường sá và di tích cấp quốc gia… còn lại thì kêu gọi đầu tư.
Thứ 2, là phải có qui hoạch du lịch. Qui hoạch chi tiết cho cả khu vực, cho cả tỉnh - qui hoạch tầm quốc tế và tầm phải 30 - 50 năm. Có qui hoạch tốt thì nhà đầu tư yên tâm, cạnh tranh lành mạnh, hợp tác cùng nhau phát triển. Không có qui hoạch cụ thể thì các công ty du lịch sẽ triệt tiêu nhau, sẽ chen lấn nhau và phát triển manh mún. Tôi cho rằng yếu tố sống còn của du lịch là qui hoạch, kể cả qui hoạch vùng phục vụ du lịch.
Thứ 3, là quảng bá kêu gọi đầu tư. Với Phú Yên và Duyên hải Nam Trung bộ tôi cho rằng du lịch sinh thái là bước đột phá có hiệu quả cao và có tầm quốc tế. Ví dụ như khu du lịch Hòn Ngọc của Vinpearland (Nha Trang), khu du lịch sinh thái Sao Việt (Phú Yên) ngoài việc xây dựng một khu du lịch đẹp, trong lành còn có ý nghĩa qua việc phục hồi đồi núi, đảo hoang sỏi đá thành đảo có cây xanh, có hoa cỏ mượt mà, môi trường tinh khiết.
Nhìn các nước quanh ta biển họ không đẹp hơn ta, cát không trắng, nước không trong bằng, phong cảnh thiên nhiên cũng chưa chắc bằng ta, nhưng họ có những khu du lịch sinh thái tuyệt vời như Bali (Indonesia), Langkawi (Malaysia), Koh Samui, Hua Hin, Phu-két (Thái Lan). Mỗi năm Thái Lan có 15 triệu khách du lịch. Đảo Bali chỉ có 3 triệu dân, mỗi năm đón 5 triệu khách du lịch. Đảo Langkawi (Malaysia) chưa đến 100.000 dân và diện tích chỉ 47.000ha nhưng có sân bay quốc tế với đường băng 3810m và có các khu resort spa nổi tiếng mỗi năm đón 4 triệu lượt khách du lịch. Việt Nam ta cả nước mỗi năm chỉ đón có 5 triệu khách và mỗi khách chỉ thu được 1.200 USD là quá ít ỏi. Nếu phát triển tốt vùng du lịch biển miền Trung với các khu du lịch sinh thái cao cấp, các điểm tham quan hấp dẫn và các dịch vụ đạt chuẩn cộng với đất nước yên bình, ổn định chính trị, chắc chắn chúng ta sẽ có 10 - 15 triệu khách du lịch và nguồn thu ngoại tệ sẽ là 15 - 20 tỷ USD mỗi năm. Tôi tin tưởng ở sự phát triển này nếu chúng ta làm căn cơ, bài bản và có cơ chế chính sách phát triển du lịch đồng bộ.
Quốc Bảo (Thực hiện)

Nguồn: Báo Du lịch
Chuyên mục:

Tuyên Quang: Phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn




Tuyên Quang là mảnh đất giàu truyền thống cách mạng, truyền thống văn hóa, có tiềm năng du lịch đa dạng phong phú, hấp dẫn, đáp ứng được nhiều loại hình du lịch: Du lịch lịch sử, du lịch lịch sử văn hóa, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái, du lịch tâm linh... Mảnh đất của 22 dân tộc anh em cùng sinh sống với những nét văn hóa độc đáo, những giá trị tâm linh bền vững đã và đang tạo ra những tiềm năng lớn để phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn.
Kết quả bước đầu
Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV, Nghị quyết số 03, ngày 12-6-2006 của BCH Đảng bộ tỉnh (khóa XIV) về phát triển du lịch tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2006 - 2010, các ngành dịch vụ, du lịch đã tập trung khai thác nguồn tài nguyên, phát huy lợi thế của tỉnh, bám sát mục tiêu Nghị quyết để phát triển đúng định hướng, đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Từ xuất phát điểm thấp, du lịch Tuyên Quang đã đặt được nền tảng quan trọng cho bước phát triển mới, có chuyển biến tích cực cả về số lượng và chất lượng. Là ngành kinh tế tổng hợp, liên ngành, liên vùng và xã hội hoá cao, du lịch có vai trò thúc đẩy các ngành kinh tế - xã hội phát triển, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm, tạo thêm môi trường đầu tư cho các thành phần kinh tế trong và ngoài tỉnh.  Hàng năm, lượng khách du lịch đến Tuyên Quang tăng bình quân trên 10%. Năm 2010, đón 530.000 lượt khách, trong đó 9.900 lượt khách quốc tế, thu nhập xã hội từ du lịch đạt 500 tỷ đồng; lao động trong các cơ sở dịch vụ du lịch khoảng 6.000 người (có trên 2.000 lao động trực tiếp). Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch của tỉnh được triển khai đồng bộ, 3 khu, 7 điểm du lịch đã được quy hoạch tạo điều kiện cho các nhà đầu tư triển khai dự án đầu tư vào lĩnh vực này.
Năm 2007, UBND tỉnh ban hành Quy định chính sách khuyến khích ưu đãi đầu tư đã tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư vào du lịch của tỉnh. Đến nay, số vốn đầu tư từ các nguồn lực lên tới hàng nghìn tỷ đồng, trong đó Chính phủ hỗ trợ gần 60 tỷ đồng từ nguồn Chương trình hành động quốc gia về du lịch cho các khu du lịch trọng điểm; các bộ, ngành trung ương đầu tư xây dựng nhiều điểm di tích trong vùng ATK - Tân Trào, Kim Bình, khu căn cứ cách mạng, hỗ trợ xây dựng các công trình đường nông thôn, nhà văn hoá cộng đồng. Đã có trên 20 dự án đề nghị đầu tư vào các khu du lịch; các tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng được 129 cơ sở lưu trú có chất lượng (có 5 khách sạn 2 sao, 24 khách sạn 1 sao); nhiều nhà hàng, khu ẩm thực và dịch vụ du lịch khác (lữ hành du lịch, dịch vụ vận chuyển khách, tắm nước khoáng nóng...) cũng được đầu tư, nâng cấp, đáp ứng lượng khách đến ngày càng tăng. Du lịch phát triển còn kéo theo một số dịch vụ khác phát triển như viễn thông, vận tải v.v...
Các khu, điểm du lịch, các tua, tuyến du lịch của tỉnh đã hình thành rõ nét. Các khu du lịch Tân Trào, Mỹ Lâm, Nà Hang, các điểm thác Bản Ba, thác Hợp Hoà, Động Tiên, các đền chùa ngày càng hấp dẫn, thu hút khách du lịch. Tuyến du lịch kết nối các khu du lịch với các tỉnh, thành cả nước; nhiều đơn vị lữ hành nội địa và quốc tế uy tín như Hanoitourium, Saigontouritm, Vietnamtour... đã chú ý khai thác thị trường Tuyên Quang. Sự đa dạng trong sinh hoạt và văn hoá của các dân tộc với những lễ hội truyền thống được tổ chức hàng năm và các sự kiện văn hoá, du lịch được các địa phương và tỉnh tổ chức như: Lễ hội Lồng tông, Cầu mùa, lễ hội Chùa Hang, đình Giếng Tanh, đền Hạ, đình Thọ Vực, Động Tiên, các Hội đua thuyền sông Lô, Lễ hội đường phố (rằm trung thu), Tuần văn hoá - du lịch... là những sản phẩm du lịch rất tươi mới, đậm bản sắc Tuyên Quang đang hấp dẫn khách nội địa, quốc tế. Cùng với tiềm năng du lịch, tỉnh liên tục quảng bá du lịch bằng nhiều hình thức, đặc biệt tổ chức liên kết du lịch “Qua những miền di sản” 4 tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc Kạn, Cao Bằng, tiến tới liên kết du lịch các tỉnh miền núi phía Bắc, đã được du khách trong và ngoài nước quan tâm.
Cần có sự đột phá
Sự nỗ lực của các cấp, ngành, sự hưởng ứng của các thành phần kinh tế đã và đang đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh. Song, du lịch Tuyên Quang vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng, lợi thế. Ông Vũ Văn, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch cho rằng, nhận thức của người dân về du lịch chưa đầy đủ, việc thu hút và tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế đầu tư vào du lịch còn hạn chế; cơ sở vật chất - kỹ thuật du lịch quy mô nhỏ, manh mún, lao động trong ngành du lịch thiếu về số lượng, yếu về nghiệp vụ; hoạt động quảng bá điểm đến còn hạn chế, sản phẩm du lịch, hàng lưu niệm, đặc sản còn đơn giản, nghèo nàn, chưa xây dựng được thương hiệu, chưa biết tiếp thị với du khách. Người dân ở khu du lịch chưa biết làm du lịch để tăng thu nhập, các khu du lịch trọng điểm vắng bóng những nhà đầu tư có năng lực tài chính, uy tín, kinh nghiệm kinh doanh du lịch, thiếu những điểm vui chơi giải trí cao cấp, những dịch vụ chất lượng cao... Từ những hạn chế đó, Tuyên Quang chưa thu hút được nhiều đoàn khách lớn, khách quốc tế, khách có chi tiêu cao, lưu trú dài ngày, chưa là điểm đến không thể thiếu trong tua, tuyến du lịch. Hạ tầng cơ sở vật chất - kỹ thuật ở các khu du lịch còn thiếu, giao thông trong tỉnh và nội bộ các khu, điểm còn hạn chế, hệ thống dịch vụ chưa đáp ứng được nhu cầu tham quan, giải trí của du khách. Theo ông Vũ Văn, chúng ta chưa tạo được điểm nhấn, sự đột phá trong phát triển du lịch, đó là  hình thành một khu du lịch là điểm đến, lưu trú của du khách, để từ đó du khách tỏa đi các khu, điểm du lịch trong tỉnh. Đây cũng là vấn đề đặt ra đối với các cấp và ngành du lịch Tuyên Quang.
Cùng với tạo điểm nhấn thì du lịch Tuyên Quang cần tập trung vào giải quyết ba vấn đề trọng tâm: Một là, thu hút các nguồn lực đầu tư xây dựng hạ tầng cơ sở vật chất - kỹ thuật du lịch. Hai là, quan tâm phát triển nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn, tạo nhiều loại sản phẩm du lịch chất lượng cao, gắn với thương hiệu du lịch của tỉnh. Ba là, liên kết các loại hình du lịch (du lịch tâm linh, du lịch nghỉ dưỡng, sinh thái...), đẩy mạnh công tác tuyên truyền, quảng bá, xúc tiến du lịch, vận động nhân dân hưởng ứng hoạt động du lịch; tích cực bảo vệ môi trường sinh thái, di tích văn hoá - lịch sử, danh lam thắng cảnh; xây dựng nếp sống văn minh, bảo tồn, phát huy văn hoá truyền thống các dân tộc gắn với phát triển du lịch. Sử dụng hiệu quả, hợp lý nguồn vốn hỗ trợ của Chính phủ trong Chương trình hành động quốc gia về du lịch; tranh thủ các nguồn vốn của các bộ, ngành Trung ương, nguồn ngân sách của tỉnh, nguồn lực từ các thành phần kinh tế trong và ngoài tỉnh, đặc biệt ưu tiên các dự án lớn, có tính khả thi, đầu tư có trọng điểm cho các khu du lịch lớn. Xây dựng cơ chế khuyến khích thu hút đầu tư riêng cho du lịch, tạo cơ chế thông thoáng, hấp dẫn, an toàn, lâu dài, nhanh được hưởng lợi cho các nhà đầu tư, nhất là các dự án đầu tư vào các khu du lịch trọng điểm, có khả năng thu hút khách du lịch cao, như Khu du lịch suối khoáng Mỹ Lâm, Khu du lịch sinh thái Nà Hang.
Để phát triển du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, các cấp ủy Đảng và nhân dân các dân tộc trong tỉnh đang nỗ lực từng ngày giữ gìn, phát huy những giá trị văn hóa, tinh thần; bảo vệ tài nguyên, sinh thái; xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, giao thông... phấn đấu để du lịch thực sự là một trong những khâu đột phá thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, góp phần đưa tỉnh Tuyên Quang nhanh chóng ra khỏi tình trạng kém phát triển.


Nguồn: Tuyên Quang
Chuyên mục:

Phát triển du lịch và giữ gìn di sản văn hóa Nam Trung Bộ: Nguồn nhân lực văn hóa mang tính quyết định




Duyên hải Nam Trung Bộ có nhiều di sản văn hóa vật thể, phi vật thể. Tuy nhiên, làm gì, hành động như thế nào để vừa phát huy giá trị di sản, vừa giữ gìn, tôn tạo di sản... là những vấn đề cấp bách được đặt ra và thảo luận tại Hội thảo quốc tế Di sản văn hóa Nam Trung Bộ với sự phát triển du lịch trong hội nhập quốc tế do Bộ VHTTDL tổ chức tại Phú Yên vừa qua.
Nguy cơ biến mất của di sản
110 tham luận của các nhà khoa học trong và ngoài nước đã tập trung thảo luận xung quanh 4 nội dung lớn về di sản văn hóa của khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ gồm: Những vấn đề tổng quát về di sản khu vực Nam Trung Bộ; Về vấn đề lịch sử, khảo cổ vùng đất Nam Trung Bộ; Di sản văn hóa và phát triển du lịch; Vùng đất Phú Yên - những thuận lợi và khó khăn trong bối cảnh hội nhập... Trong đó, vấn đề di sản văn hóa, việc giữ gìn, bảo tồn và khai thác, phát triển thành sản phẩm du lịch được nhiều đại biểu quan tâm.
“Tuy di sản văn hóa vật thể, phi vật thể vùng Nam Trung Bộ rất phong phú, có giá trị vô cùng quý báu nhưng hiện nay trải qua thời gian, chiến tranh kéo dài, các biến đổi về kinh tế - xã hội, đặc biệt là quá trình đô thị hóa và vấn đề khí hậu khu vực miền Trung khắc nghiệt - bão lũ thường xuyên đã tác động lớn đến các di sản văn hóa, đến cộng đồng cư dân trong vùng, khiến các giá trị di sản văn hóa, nhất là di sản phi vật thể đứng trước nguy cơ mai một.
Ngoài ra, những người nắm giữ, hiểu biết về văn hóa phi vật thể đã lớn tuổi, trong khi lớp trẻ trở nên thờ ơ với những giá trị văn hóa, dẫn đến sự kế cận, truyền nghề trở nên hụt hẫng”, tiến sĩ Đinh Bá Hòa, Giám đốc Bảo tàng Tổng hợp Bình Định bày tỏ lo lắng.
Một số ý kiến phân tích nguyên nhân tác động, xu thế biến đổi đối với các di sản văn hóa khi khai thác để phát triển du lịch, đặc biệt là sự khai thác quá mức, thậm chí người khai thác không có trình độ, tư duy văn hóa đã ảnh hưởng trầm trọng, phá hỏng các di sản văn hóa.
Phó Giáo sư - Tiến sĩ Phạm Trung Lương (Viện Nghiên cứu phát triển du lịch) trong tham luận “Phát triển du lịch vùng Duyên hải Nam Trung Bộ trong quan hệ với bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa” đã chứng minh sự tác động trái chiều của các khu kinh tế, của sự đô thị hóa ngày càng mạnh mẽ đã ảnh hưởng to lớn đến không gian văn hóa trong vùng.
Nhiều ý kiến khác bức xúc trước các xu hướng “hiện đại hóa”, “thương mại hóa” các hoạt động bảo tồn, phát huy di sản văn hóa và phát triển du lịch. Hàng loạt di sản bị “hiện đại hóa” một cách vô tội vạ. Nhiều nơi khác lại đua nhau trùng tu di tích một cách vội vã, thiếu am hiểu khiến di tích không còn là chính nó. Nếu cứ giữ cách làm đó sẽ không ít di sản đứng trước nguy cơ biến mất - một đại biểu bức xúc.
Nguồn nhân lực văn hóa mang tính quyết định
Hầu hết các ý kiến tại hội thảo đều khẳng định trong bối cảnh hội nhập kinh tế, văn hóa, xã hội hiện nay, du lịch văn hóa đang là hướng phát triển của nhiều quốc gia. Loại hình du lịch này vừa giúp văn hóa truyền thống tồn tại, bảo tồn, phát huy giá trị, đồng thời cũng giúp cư dân bản địa có việc làm, tăng thu nhập.
Khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ, nơi có những di sản văn hóa – tiềm năng du lịch to lớn; tuy nhiên, do nhiều yếu tố cả chủ quan lẫn khách quan, trong đó có sự hạn chế của nguồn nhân lực mà đến nay di sản văn hóa tại khu vực này vẫn chưa phát huy được giá trị.
Tiến sĩ Nguyễn Văn Lưu (Vụ Đào tạo, Bộ VHTTDL) đặt ra vấn đề tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực du lịch, nhất là du lịch có trình độ. Vì vậy, muốn phát huy giá trị di sản phải đào tạo nguồn nhân lực.
Ông Lưu nhấn mạnh, văn hóa, nhất là các di sản tạo ra sức hấp dẫn du lịch. Tuy nhiên, muốn khai thác được phải có sự đầu tư, tôn tạo của bàn tay con người. Đến lượt mình, hoạt động du lịch được tổ chức tốt, văn hóa du lịch được hình thành và ngày một nâng cao, được giữ gìn, được truyền lại cho đời sau.
Nói cách khác, bản thân hoạt động du lịch cũng là một loại di sản đặc biệt... Thời gian qua, di sản văn hóa đã được quan tâm bảo tồn, đạt được những thành tựu đáng ghi nhận, nhưng việc phát huy giá trị di sản chưa được đẩy mạnh, nhất là trong phát triển du lịch. Thực trạng đó do nhiều nút thắt, nhưng quan trọng nhất vẫn là nguồn nhân lực văn hóa và du lịch chưa đủ về số lượng, chưa đảm bảo về chất lượng và tính hợp lý về cơ cấu.
Đại biểu Hoàng Đạo Bảo Cầm (Viện Nghiên cứu phát triển du lịch) đề xuất: “Trong quy hoạch phát triển du lịch, cần lồng ghép các tư tưởng bảo tồn, phát huy các giá trị di sản. Toàn vùng cần có hành động chung để cải thiện năng lực cạnh tranh, tăng cường hiệu quả của hoạt động du lịch, đẩy mạnh công tác bảo tồn, phát huy di sản văn hóa”.
Nhiều ý kiến đề nghị bên cạnh việc đầu tư phát triển hạ tầng, bảo tồn tôn tạo di sản văn hóa, cần chú trọng phát triển nhân lực văn hóa, du lịch đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng, hợp lý về cơ cấu là tháo gỡ nút thắt mang tính quyết định cho bảo tồn, phát huy di sản trong phát triển du lịch của từng địa phương và toàn vùng Nam Trung Bộ.
Nam Phong

Nguồn: Báo Văn hóa
Chuyên mục:

Thị trường trọng điểm của du lịch Việt Nam




Xác định thị trường trọng điểm và dự báo tiềm năng phát triển đúng sẽ giúp cho các nhà hoạch định chính sách du lịch định ra chiến lược phát triển cũng như mục tiêu, kế hoạch phấn đấu của du lịch Việt Nam trong từng giai đoạn cụ thể một cách khoa học và sát với thực tế; đồng thời có biện pháp giữ vững và phát triển thị trường truyền thống, thu hút ngày càng nhiều khách quốc tế đến Việt Nam.
Thị trường khách du lịch quốc tế đến Việt Nam được xác định chủ yếu là từ các nước và vùng lãnh thổ ở Bắc Á (Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc); khu vực Tây Âu (Pháp, Anh, Đức) và từ các châu lục khác như Mỹ, Úc. Sự gia tăng nhanh chóng lượng khách du lịch đến từ các nước trong khu vực ASEAN như Campuchia, Thái Lan, Malaysia, Singapore trong khoảng 2-3 năm trở lại đây cũng làm phong phú thêm thị trường khách du lịch quốc tế đến Việt Nam.
Theo nhận định của ngành du lịch: các thị trường truyền thống của du lịch Việt Nam vẫn giữ được đà tăng trưởng đều và vẫn là các thị trường quan trọng hàng đầu trong yêu cầu thu hút khách. Bên cạnh đó, sự tăng trưởng của các thị trường mới trong khu vực cũng là xu thế quan trọng. Đáp ứng các sản phẩm du lịch cho thị trường truyền thống cũng như nhu cầu của thị trường mới nổi đang là nhiệm vụ của ngành Du lịch Việt Nam .
Theo thống kê của Phòng thị trường và sản phẩm du lịch thuộc Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch cho thấy: nguồn khách du lịch quốc tế đến Việt Nam chủ yếu từ châu Âu, Bắc Mỹ, Bắc Á. Năm 2004, có sự tham gia của thị trường mới nổi là thị trường Hàn Quốc; thị trường này nhanh chóng vươn lên vị trí thứ 2 trong nhóm 10 thị trường trọng điểm giai đoạn từ năm 2006-2008 và năm 2009 bị thị trường khách Mỹ soán ngôi vị. Đối với hiện tượng thị trường khách Hàn Quốc, sự tăng trưởng của thị trường này trong các năm 2006-2007 là 30%/năm. Tuy vậy, Việt Nam cũng chỉ đón được 3,75% trong tổng số 8 triệu người dân Hàn Quốc đi du lịch nước ngoài.
Bên cạnh đó, với chính sách miễn VISA cho khách quốc tế đến Việt Nam đã tạo sự “xâm nhập” của 2 thị trường khách du lịch trong khu vực đến Việt Nam là Thái Lan và Campuchia; tiếp theo là lượng du khách hàng năm đến Việt Nam từ Malaysia, Singapore. Các thị trường khách nói trên luôn giữ được sự tăng trưởng và chiếm tỷ trọng đáng kể, giữ vị trí trong danh sách 10 thị trường dẫn đầu cho đến nay.
Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới vào năm 2008 đã tác động không nhỏ đến ngành du lịch thế giới cũng như với du lịch Việt Nam. Năm 2008, du lịch Việt Nam chỉ đạt ở con số 4.253.740 lượt khách quốc tế (tăng gần 1% so với năm 2007). Năm 2009, lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam vẫn trong tình trạng sụt giảm và nguồn chủ yếu vẫn là các thị trường trọng điểm. Năm 2010, Việt Nam đạt con số hơn 5 triệu khách du lịch quốc tế.
Thị trường khách du lịch truyền thống từ Bắc Á (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn quốc, Đài Loan) luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng lượng khách quốc tế đến Việt Nam. Đặc biệt, khách du lịch Trung Quốc tuy có lúc tăng giảm về số lượng nhưng luôn đứng đầu bảng trong các thị trường khách quốc tế đến Việt Nam. Thị trường khách du lịch Nhật Bản vẫn tăng trưởng đều. Thị trường mới nổi là Hàn Quốc cũng nằm trong danh sách các thị trường hàng đầu đến Việt Nam. Thị trường Bắc Mỹ có tốc độ tăng trưởng và mức thu hút khá lớn với Việt Nam. Khách Mỹ chủ yếu là các cựu chiến binh trở lại thăm chiến trường xưa, khách Việt kiều mang Quốc tịch Mỹ về thăm quê hương. Đây được coi là thị trường nguồn quan trọng đối với thị trường du lịch Việt Nam.

Nguồn: Cinet
Chuyên mục:

Du lịch bằng đường sắt: Vì sao kém hấp dẫn du khách?

Mặc dù ra đời từ rất sớm và đóng vai trò quan trọng trong hệ thống phương tiện vận chuyển nhưng thời gian qua, cơ sở hạ tầng cũng như chất lượng dịch vụ đường sắt nước ta vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của du khách, nhất là khách quốc tế. Điều đó khiến cho doanh thu từ du lịch đường sắt luôn thấp và khó cạnh tranh với các phương tiện vận chuyển khác.
Dịch vụ du lịch bằng đường sắt chỉ đạt chất lượng trung bình nên chưa thu hút nhiều khách. Ảnh: Nhật Nam
Hoạt động cầm chừngTheo thống kê của Tổng cục Du lịch, trong năm 2010, cả nước đón hơn 5 triệu lượt khách du lịch quốc tế. Tuy nhiên, trong số đó có 83% số khách đi du lịch bằng đường hàng không, còn lại là đường bộ, nhưng số người chọn đường sắt chiếm tỷ lệ không đáng kể. Mặc dù du lịch đường sắt có nhiều lợi thế, như độ an toàn cao, thân thiện với môi trường, thuận lợi cho hành trình trải nghiệm nhưng du khách không mặn mà với loại hình du lịch này. Lý giải về vấn đề này, ông Nguyễn Mạnh Cường, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch thừa nhận, so với các nước có ngành "công nghiệp không khói" phát triển, du lịch đường sắt nước ta còn nhiều bất cập. Hạ tầng đường sắt (nền đường, khổ đường) hạn chế khiến tốc độ của tàu chậm so với các phương tiện giao thông khác. Mặt khác, chất lượng dịch vụ trên các đoàn tàu còn kém.
Hiện nước ta có rất nhiều tuyến đường sắt có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động du lịch, như tuyến Hà Nội - Lào Cai, Hà Nội - Vinh, TP Hồ Chí Minh - Nha Trang, tuyến Bắc - Nam, tuyến quốc tế đi Nam Ninh, Côn Minh (Trung Quốc). Qua đánh giá thực tế, chỉ có tuyến đường sắt Hà Nội - Lào Cai và ngược lại hoạt động có hiệu quả với tỷ lệ khách du lịch tăng dần theo từng năm. Cụ thể, nếu năm 2007, tỷ lệ du khách tham gia tuyến đường sắt này đạt 57% thì đến năm 2010 đã tăng lên gần 68%. Còn lại, không ít tuyến du lịch đường sắt khác đang trong tình trạng hoạt động cầm chừng. Chẳng hạn như tuyến Hà Nội - Nam Ninh, Hà Nội - Quảng Ninh dù được đưa vào khai thác từ năm 2009 nhưng đến nay thu hút rất ít khách du lịch.
Theo Cục Đường sắt Việt Nam, do thiếu kinh phí nên hầu hết các toa xe của ngành đều thuộc dạng "quá tuổi khai thác", chất lượng kém. Hiện nay, ngành đường sắt mới chỉ duy trì các tuyến đang hoạt động chứ chưa đầu tư nâng cấp và phát triển thêm các tuyến mới. Thị phần vận chuyển hành khách của đường sắt cũng chỉ chiếm khoảng 7% thị phần vận tải. Trong quy hoạch, tới đây ngành đường sắt sẽ tập trung cải thiện hạ tầng những tuyến ngắn, trung bình, trong đó có những tuyến thu hút khách du lịch như Hà Nội - Lào Cai, Hà Nội - Vinh, TP Hồ Chí Minh - Nha Trang.
Cấp hạng sao cho toa tàuKhông chỉ hạn chế về hạ tầng, chất lượng dịch vụ trên đoàn tàu, chuyện không có phương tiện vận chuyển từ ga đến các điểm tham quan, thủ tục xuất cảnh rườm rà tại các tuyến quốc tế… cũng là nguyên nhân khiến du lịch đường sắt nước ta chưa tạo được sức hút đối với du khách.
Theo đánh giá của các hãng lữ hành, ở Việt Nam mới chỉ có vận tải hành khách bằng tàu hỏa chứ chưa thực sự có sản phẩm du lịch đường sắt. Bởi, muốn trở thành sản phẩm du lịch thì trước hết phải đáp ứng yêu cầu về cơ sở hạ tầng và chất lượng dịch vụ. Về điều này, ngành đường sắt hiện chưa làm được. Thêm vào đó, hình thức đặt vé tàu cũng chưa thông thoáng, gây khó khăn cho doanh nghiệp lữ hành. Nếu như với hàng không, việc đặt chỗ có thể tiến hành trước cả năm, thì hiện nay ngành đường sắt vẫn chưa áp dụng hình thức này. Điều đó khiến cho các đoàn khách quốc tế, vốn có thói quen đăng ký tour sớm, rất khó đặt vé trước.
Ông Nguyễn Mạnh Cường cho rằng, để trở thành sản phẩm du lịch hấp dẫn thì ngành đường sắt cần nâng cao chất lượng các toa tàu, cải thiện chất lượng phục vụ, điều kiện vệ sinh và an ninh nhà ga. Riêng đối với những tuyến phục vụ khách quốc tế, ngành đường sắt cần phối hợp với ngành du lịch đào tạo ngoại ngữ cho nhân viên làm việc trên tàu. Bên cạnh đó, việc xếp hạng "sao" cho các toa tàu du lịch đạt chuẩn và đề ra mức giá tương ứng cũng là vấn đề quan trọng cần nghiên cứu trong thời gian tới. Để việc kinh doanh sản phẩm du lịch đường sắt đạt hiệu quả, rất cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa hai ngành đường sắt và du lịch. Cụ thể, tại nhà ga nên có văn phòng cung cấp thông tin về các hãng du lịch, chương trình du lịch, các điểm đến... Ngược lại, tại các công ty du lịch phải có bộ phận cung cấp thông tin và kế hoạch bán vé tàu cho du khách.
 
Xuân Lộc

Nguồn: HNM
Chuyên mục:

Hà Nội: Tìm lời giải cho du lịch phố cổ




Tới Hà Nội, hầu hết du khách đều muốn tìm hiểu, khám phá về lịch sử hình thành và phát triển của Hà Nội qua 36 phố phường. Tuy nhiên, để du lịch phố cổ thực sự hấp dẫn, tạo dấu ấn với du khách rất cần có những giải pháp đồng bộ.
Hiện trạng du lịch phố cổ  
Phố cổ Hà Nội là một di sản đô thị minh chứng cho lịch sử hình thành và phát triển của Thủ đô Hà Nội. Tổ chức không gian khu phố cổ Hà Nội được phân chia theo dạng bàn cờ, với những thửa đất dài và hẹp, ngôi nhà ống có nhiều lớp thấp tầng với mái ngói lô xô. Cho đến hôm nay phố cổ Hà Nội còn lưu giữ nhiều di sản vật thể và phi vật thể hết sức quý giá, đó là những con phố được bắt đầu bằng chữ “Hàng”, những ngôi nhà cổ, các di tích, danh thắng ghi đậm dấu ấn về sự hình thành, phát triển của Thăng Long - Hà Nội như đền Bạch Mã, nhà 48 Hàng Ngang, nhà cổ 87 Mã Mây, Ô Quan Chưởng, đình Kim Ngân… Kể từ năm 2004, khi phố cổ Hà Nội được xếp hạng là khu di tích lịch sử quốc gia, nhiều công trình kiến trúc, đình, đền, nhà cổ được đầu tư tôn tạo đã góp phần tạo nên diện mạo mới nhưng vẫn bảo tồn được những nét đẹp truyền thống. Không chỉ có vậy, khi đến đây du khách còn được thưởng thức nét ẩm thực độc đáo của Hà Nội, cùng tìm hiểu, khám phá về nét đẹp văn hóa, phong tục tập quán của người Tràng An qua các hoạt động: thưởng thức trà Việt, thưởng thức ca trù, nghe giới thiệu về tranh dân gian Hàng Trống, Đông Hồ, tìm hiểu về không gian, kiến trúc ngôi nhà cổ, nghề dệt lụa tại 38 Hàng Đào. Du khách có thể khám phá phố cổ trên những chiếc xích lô du lịch hay xe điện để tìm hiểu về nét đẹp, cuộc sống, sinh hoạt của người dân phố cổ.  
Theo thống kê của Sở VHTTDL Hà Nội, trong năm 2010 Hà Nội tổ chức Đại lễ, chỉ tính riêng khu vực phố cổ đã có hàng vạn lượt du khách đến tham quan, tìm hiểu.    
Bên cạnh sự hấp dẫn, phố cổ còn có những điều chưa thực sự làm hài lòng du khách. Điều đáng quan tâm đối với du khách là tình trạng giao thông ở khu vực này. Anh Carlo Wolf, du khách đến từ Brazil cho biết: “Đến Hà Nội, tôi thích nhất tham quan phố cổ với nét đẹp cổ kính và sự sầm uất, tấp nập rất đặc trưng. Nhưng điều làm tôi sợ nhất là mỗi khi sang đường tại khu vực này, mặc dù được hướng dẫn viên khuyến cáo là cần tuyệt đối tuân thủ đèn tín hiệu giao thông nhưng vẫn nhiều phen thót tim”. Không chỉ có vậy, trong khu vực phố cổ các phương tiện ô tô, xe máy mặc dù có sắp xếp nhưng lấn chiếm hết vỉa hè khiến cho du khách phải đi bộ dưới lòng đường. Bên cạnh đó, việc dừng đón trả khách bừa bãi của các phương tiện xích lô, xe ôm, thậm chí cả xe du lịch trong phố cổ và ở những điểm tập trung đông du khách như: Cổng đền Ngọc Sơn, Nhà hát múa rối nước Thăng Long, Hàng Đào, Mã Mây... đã góp phần tạo cho giao thông khu vực này thêm lộn xộn. Chị Chantrelle Nielson, du khách đến từ Anh tâm sự: “Tôi hết sức ấn tượng về nét đẹp cổ kính vẫn được bảo tồn trong sự phát triển. Tuy nhiên, trong phố cổ vẫn còn hình ảnh chưa đẹp như bán hàng dưới lòng đường, chèo kéo khách du lịch”.  
Cần có những giải pháp đồng bộ  
Để phát huy giá trị, khai thác thế mạnh của phố cổ trong hoạt động văn hoá cũng như du lịch cần có những giải pháp đồng bộ giữa ngành VHTTDL Hà Nội, chính quyền các cấp, doanh nghiệp và người dân trong khu vực phố cổ.  
Theo bà Trần Thúy Lan – BQL phố cổ Hà Nội: để khu vực phố cổ thực sự là điểm đến hấp dẫn du khách, Nhà nước cần quan tâm hơn nữa đến công tác bảo tồn, tôn tạo, quy hoạch trong chiến lược xây dựng điểm đến. Trong quá trình xây dựng xây dựng các sản phẩm du lịch của phố cổ, các doanh nghiệp cần phối hợp chặt chẽ với cơ quan quản lý nhà nước, người dân để đưa ra được những sản phẩm mang nét đặc trưng của phố cổ. Trong quá trình quản lý phố cổ tạo điều kiện cho du lịch phát triển, các cơ quan cũng như chính quyền địa phương cần có cơ chế đặc thù cho vấn đề bảo đảm an toàn giao thông; kiên quyết xử lý kịp thời tình trạng bán hàng rong, lôi kéo khách, ăn xin, lấn chiếm vỉa hè, lòng đường; sắp xếp, quy định lại nơi để xe máy, ô tô, xích lô, làm các biển chỉ dẫn, nghiên cứu để xây dựng các nhà vệ sinh công cộng trong phố cổ. Theo ý kiến của nhà nghiên cứu Trần Lâm Biền; “Để cho du khách hiểu sâu về Hà Nội nói chung và phố cổ nói riêng, cần chú trọng tới việc đào tạo nguồn nhân lực, trong đó đặc biệt quan trọng là đội ngũ hướng dẫn viên. Đây là những người trực tiếp gặp gỡ, hướng dẫn khách, đòi hỏi lực lượng này phải có kiến thức chuyên sâu nhiều các lĩnh vực. Theo tôi, để giúp du khách hiểu sâu về phố cổ, tuỳ vào đối tượng khách có thể mời các chuyên gia, các nhà nghiên cứu giới thiệu, hướng dẫn giúp cho khách hiểu thêm về những giá trị của phố cổ”.  
Hy vọng, với sự quan tâm của Nhà nước,sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế cùng với những giải pháp nêu trên phố cổ Hà Nội sẽ phát huy giá trị, tạo nên sự hấp dẫn đặc biệt đối với du khách khi đến thăm Thủ đô Hà Nội ngàn năm văn hiến.  

Nguồn: Báo Du lịch
Chuyên mục:

Thừa Thiên Huế: Xây dựng lễ hội văn hóa trở thành thương hiệu du lịch đặc trưng




Chọn cho mình một thương hiệu mang tính đặc trưng là rất khó, nhất là tìm thương hiệu du lịch cho tỉnh Thừa Thiên Huế.
Khó là xem xét Thừa Thiên Huế có hay không có thương hiệu về du lịch và nếu có quá nhiều thì chọn cái gì? Người nghiên cứu phải tìm được câu trả lời - Huế hấp dẫn du khách là nhờ yếu tố gì, có cơ sở khoa học để xây dựng thương hiệu không? Có trở thành chiến lược phát triển lâu dài không những cho Huế mà là cả nước, của nhiều nước?
Nếu thành phố Hồ Chí Minh là thành phố kinh tế mang tính động lực của cả nước thì Huế, theo nhiều người nghĩ phải là thành phố du lịch mang tính đặc trưng kết nối cho cả nước và là điểm đến tập trung cho du khách của nhiều nước mới đúng vị thế của nó. Như vậy, xây dựng thương hiệu du lịch ở Thừa Thiên Huế phải là thương hiệu mạnh có giá trị đặc trưng dựa trên cơ sở nội tại và ưu thế của ngoại lực, về lợi thế so sánh với cả nước. Có nhìn nhận đúng, mới có chính sách và đầu tư đúng thì du lịch ở Thừa Thiên Huế mới phát triển đúng.
Vấn đề cần nhìn nhận là gắn kết văn hoá và du lịch, hay nói một cách khác là du lịch thông qua di sản văn hóa (vật thể và phi vật thể) thì mới xây dựng Huế thành một đô thị đặc trưng. Văn hóa vật thể như cung điện, lăng tẩm, chùa chiền… cần được bảo tồn tốt để phát huy giá trị, chỉ có di sản văn hóa phi vật thể mới nghiên cứu, xây dựng, phát triển để vừa giữ được tinh tuý, cốt cách nhưng cũng phù hợp với sở thích của số đông, nhắm đến thị trường hoá thì mới có thương hiệu. Vì thương hiệu là ngôn ngữ của thương mại, là thuộc tính của thị trường. Do đó, tìm thương hiệu mạnh phải là văn hoá phi vật thể, nhưng tạo ra sản phẩm du lịch, để sản phẩm trở thành thương hiệu hấp dẫn là rất khó. Trong hội nghị quan trọng này, đề xuất một thương hiệu du lịch là phải hết sức thận trọng. Với tinh thần đó, tôi đề nghị nên "Xây dựng lễ hội văn hóa ở Thừa Thiên Huế thành thương hiệu du lịch đặc trưng của Việt Nam".
Bởi vì văn hóa và du lịch là hai người bạn đồng hành, nó sẽ mạnh lên nhờ các yếu tố nội sinh bổ sung cho nhau, nhưng cũng là hai đối thủ sẵn sàng loại bỏ nhau trong cuộc đua vì cách nhìn nhận khác nhau hoặc do lợi ích của người sử dụng không giống nhau.
Xét trên Cơ sở khoa học
Về lịch sử: Thừa Thiên Huế có bề dày lịch sử, nhiều thời kỳ Huế là kinh đô hoặc giữ vị trí quan trọng của cả nước, từng có quan hệ với nhiều nước như thời chúa Nguyễn, Tây Sơn và triều Nguyễn. Yếu tố lịch sử này là mang tính đặc trưng cần được chú ý khai thác về khía cạnh quảng bá du lịch văn hóa.
Về văn hóa: Sau khi Huế không là kinh đô thì thành phố Huế trở thành thành phố di sản, mang trong mình hai giá trị di sản của thế giới (xuất hiện từ sau năm 1945, và khẳng định qua hai thời điểm 1993 và 2003, UNESCO công nhận hai di sản vật thể và phi vật thể của Huế là di sản mang giá trị toàn cầu).
Quá trình thể nghiệm và khẳng định vị thế
Từ năm 2000, tỉnh Thừa Thiên Huế xây dựng gói sản phẩm văn hoá du lịch Festival Huế (lễ hội văn hóa quốc tế Huế đầu tiên) và đã tổ chức thành công; được tiếp tục triển khai và bổ sung nhiều yếu tố mới, hai năm tổ chức một lần (năm chẵn). Đến nay đã qua 5 lần tổ chức Festival Huế, dần dần trở thành lễ hội văn hóa mang tính đặc trưng, là mùa vụ thu hút khách du lịch trong nước và quốc tế. Thương hiệu về du lịch lễ hội văn hóa trên cơ sở đó cũng được hình thành và nay đã khẳng định được vị thế về quy mô của tổ chức, phong phú nội dung lễ hội, mở rộng địa bàn lễ hội (thành phố Huế và nhiều huyện), lượng khách tham quan tập trung càng đông; nhân dân quan tâm nhiều hơn, hưởng thụ văn hoá và đời sống người dân cũng được nâng cao. Từ năm 2005 (năm lẻ), thành phố Huế tổ chức Festival nghề thành công, cũng góp phần tôn vinh nghề truyền thống và khẳng định sự gắn kết giữa lễ hội văn hóa với du lịch Thừa Thiên Huế như một tất yếu của sự phát triển.
Những giá trị đặc trưng và lợi thế so sánh
Trong các lễ hội thành công của Festival Huế thì lễ hội lịch sử - văn hóa là tiêu biểu mang tính đặc trưng, có ấn tượng nhất, có lễ hội được lặp lại nhưng vẫn hấp dẫn như Lễ hội tái hiện Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế, Lễ hội tế đàn Nam Giao, Lễ hội tế đàn Xã tắc, Lễ hội Truyền lô, võ cử… Có lễ hội lịch sử được tạo sản phẩm đầu tiên (2010) nhưng gây được ấn tượng sâu sắc như Lễ hội thao diễn thủy binh thời chúa Nguyễn, Lễ hội Hành trình mở cõi.
Về giá trị sản phẩm so sánh, với các lễ hội lịch sử- văn hoá nói trên ở Huế đã được xác lập, là ưu thế nổi bật trở thành lễ hội văn hoá đặc trưng của cả nước.
 Có được kinh đô Huế là thành quả của các triều đại phong kiến sau 9 lần dời đô và dựng đô (Ái Tử, Trà Bát, Dinh Cát, Phước Yên, Kim Long, Phú Xuân, Bác Vọng, trở lại Phú xuân thời chúa Nguyễn, kinh đô Phú Xuân thời Tây Sơn và kinh đô Huế thời Nguyễn). Nhưng Huế chưa tạo ra một lễ hội dời đô và dựng đô đặc sắc, trong khi đó Hà Nội với Lễ hội kỷ niệm 1000 năm Thăng Long thông qua Chiếu dời đô của Lý Thái Tổ trở thành một sản phẩm có giá trị đặc trưng. Điều đó rất đúng với yếu tố lịch sử, quy mô của nhà tổ chức và đầu tư.
Lễ hội Bắn súng thần công (của triều Nguyễn), Huế hoặc Đà Nẵng tổ chức là đúng nhất, nhưng Vũng Tàu đã đi trước (2008) và tạo được ấn tượng sâu sắc, lễ hội này nghiễm nhiên trở thành thương hiệu của Vũng Tàu. Vì đó là nơi đã tạo ra sản phẩm văn hóa - du lịch đầu tiên và giữ được giá trị của sản phẩm trong nhiều năm.
Lễ hội Tịch điền, được tổ chức ở Đọi Sơn (Nam Hà) từ 2009, vì đó là nơi đầu tiên vua Lê Đại Hành cày ruộng tịch điền vào năm 987. Huế là nơi tổ chức nghi lễ cày tịch điền hoành tráng nhất, các tỉnh dưới thời Nguyễn đều có ruộng tịch điền và quan đầu tỉnh hàng năm đều tổ chức nghi lễ tịch điền rất trang trọng, lễ Tịch điền triều Nguyễn có nhiều tài liệu nhất so với các triều đại trước đó. Triều Nguyễn là triều đại cuối cùng tổ chức nghi lễ Tịch điền đạt đến đỉnh cao cũng như Nhã nhạc cung đình có từ thời Hồ (1402), đến thời Nguyễn ở Huế là đỉnh cao. Nếu biết khai thác yếu tố này thì tổ chức tái hiện nghi lễ Tịch điền cũng cho một sản phẩm có giá trị.
Cùng với lễ hội lịch sử - văn hóa ở Huế khai thác lễ hội về văn hóa tâm linh cũng sẽ có kết quả khả quan. Vì Huế là đất "Thần kinh", "kinh đô" của Phật Giáo; không phải nơi nào cũng có nhiều đền miếu, am thờ, lăng mộ, chùa chiền… như Thừa Thiên Huế. Trong nhiều năm qua, tại Thừa Thiên Huế đã tạo ra được nhiều sản phẩm có giá trị về loại hình này, có sản phẩm từ lâu đời như Lễ hội Điện Hòn Chén, có lễ hội mới ra đời như lễ hội Đền Huyền Trân… đều thu hút được sự quan tâm của đông đảo du khách và người mến mộ. Các lễ hội này cũng mang yếu tố lịch sử và nữ giới, có lẽ vì thế mà phù hợp với văn hóa Huế chăng?
Giải pháp và đề xuất
Tạo ra nhiều sản phẩm mới mang tính đặc trưng
Huế một thời là kinh đô nên tập trung nhiều nghệ nhân cả nước, tập trung nhiều ngành nghề để xây dựng và phục vụ đời sống cung đình nên cần đầu tư để tạo ra những sản phẩm thủ công phục vụ khách du lịch cũng như lễ hội làng nghề cũng cần được chú trọng hơn.
Huế một thời là biên địa của đất nước (Việt - Chăm) nên để lại nhiều giá trị về văn hoá. Vì thế nên tìm loại hình lễ hội dân gian chứa đựng yếu tố lịch sử-văn hoá mang tính đặc trưng của vùng đất này. Chẳng hạn lễ hội về "Đảo Huyền Trân" tổ chức ở núi Linh Thái - đầm Cầu Hai, nơi Công chúa Huyền Trân nghỉ lại trong cuộc hành trình dài ngày từ kinh đô Thăng Long - Đồ Bàn và ngược lại. Lễ hội đền thờ Phi vận tướng quân ở cửa Tư Hiền - đầm Cầu Hai thờ một nhân vật có tên Nguyễn Phục, đỗ Tiến sĩ năm 1453, từng dạy học cho vua Lê Thánh Tông. Trong cuộc nam chinh đánh Chămpa vào năm 1471, ông được phong chức Phi vận tướng quân. Khi đoàn thuyền lương đến cửa biển Tư Hiền thì sóng gió nổi lên, thuyền không thể đi được. Ông nói với binh sĩ: "Thà để một thân chịu tội chặt đầu, há để cho thóc này vùi xuống biển và cho binh lính vô tội làm mồi cho cá sao". Ông quyết định cho thuyền neo lại tại đầm Cầu Hai nên cuộc hành trình bị chậm trễ, quân lương bị thiếu. Ông bị vua ra lệnh chém. Trân trọng và cảm phục ông, dân địa phương lập đền để thờ ông, đền rất linh ứng.
Nguyễn Phục có con trai tên Nguyễn Đạm làm Thừa Tuyên sứ Thuận Hoá ra công tìm kiếm hài cốt của ông, lúc hài cốt được đưa về  "có đàn voi rừng trăm con, đi hộ tống trước sau. Mọi người nhìn nhau thất sắc. Nhưng voi không hề có ý hại ai".
Những mẫu chuyện này rất có ý nghĩa về lịch sử và giá trị về đạo lý, tạo được hình ảnh đặc trưng của lễ hội, cần được nghiên cứu, tái hiện, phục dựng.
"Lễ hội phá Tam Giang" qua các câu chuyện "chém sóng" của Nội tán Nguyễn Khoa Đăng (1691-1725) để vận dụng trong cuộc sống hiện nay, lễ hội "lấp cửa Eo" thời nhà Hồ (1404), xây dựng lễ hội qua các mẫu chuyện hy sinh của tướng sĩ chiến đấu giữ trấn Hải Thành, cửa Thuận An vào năm 1883…
"Lễ hội biển" bao gồm lễ hội lịch sử, tái hiện các trận hải chiến lớn như chiến thắng chiến hạm Hà Lan năm 1644, đánh Pháp năm 1883, thuyền đi thuyền về từ Hoàng Sa thời chúa Nguyễn, Tây Sơn và triều Nguyễn…
Nếu Huế xây dựng được lễ hội "Đám cưới Hoàng cung" cũng rất đặc sắc, tái hiện từ thời Trần (công chúa Huyền Trân; thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên với các công nương Ngọc Vạn gả cho vua Chân Lạp- Chetta II, công nương Ngọc Khoa gả cho vua Chămpa- Po Romé, công nương Ngọc Hoa (Anio) gả cho đại thương gia Nhật Bản- Araki Sutaro.
"Lễ hội chùa Thiên Mụ", gắn ngôi Quốc tự nổi tiếng, biểu tượng của văn hoá Huế với câu chuyện Bà áo đỏ thời chúa Nguyễn Hoàng tìm đất đóng đô.
Lễ hội dân gian: "lễ hội Khai canh", tiêu biểu là lễ hội khai canh làng Thanh Phước do một nhân vật vào thời Lê Thành Tông tên Phan Niêm đến lập làng thế kỷ XV(1472). Lễ tế Khai canh vào ngày 21 tháng 6 Âm Lịch hàng năm  được dân khắp vùng và khách quốc tế đến dự lễ. "Lễ hội cầu ngư" của làng Thai Dương nên gắn với câu chuyện Đền Thai Dương được ghi trong sách Ô châu cận lục mới xác thực và sinh động hơn: Tại làng Thai Dương, huyện Kim Trà (nay là thị trấn Thuận An, huyện Phú Vang). Tục truyền Nữ thần là người Chăm, gia đình côi cút chỉ có hai anh em, anh trai vô tình chém vào đầu em gái gây thương tích. Hai anh em chia tay, người anh xuất ngoại trở thành nhà buôn giàu có, người em ở lại quê nhà hoá thành Nữ thần. Một hôm người anh vượt biển về thăm quê, tình cờ hai người gặp nhau kết nghĩa thành vợ chồng, rồi người em có thai. Khi người anh nhận ra vết sẹo ở đầu vợ mình mới biết đó là em gái. Sợ hãi, sau khi để lại một nửa vàng ngọc, của cải cho vợ rồi cỡi thuyền trốn đi.  Nữ Thần buồn rầu rồi chết, cái thai hoá thành khối đá.
"Có người đánh cá biển ở đây, gối đầu vào khối đá này ngủ say, mộng thấy một người đàn bà có thai lấy tay chỉ vào đầu anh ta mà nói rằng: Chớ phạm vào cái thai nhi của ta. Người đánh cá tỉnh dậy, cho là kinh dị, khấn rằng: 'Nếu thiêng liêng xin cho đêm nay bắt được nhiều cá'. Quả thật như lời, bèn lập miếu thờ. Ai tới cầu đảo cũng rất linh ứng"…
Có giá trị về học thuật
Xây dựng lễ hội văn hóa dựa trên nền tảng của lịch sử sẽ mang lại những giá trị vĩnh cửu mà không phải địa phương nào cũng có và thời điểm nào cũng xuất hiện. Đó là giá trị đích thực của lễ hội mang tính lịch sử. Ví dụ: Tái hiện Lễ Tịch điền ở Huế không giống Đọi Sơn, vì triều đại đã khác nhau, trang phục cũng khác nhau và nội dung, nghi thức cũng khác nhau. Trang phục của chúa không giống với vua, thủy quân chúa Nguyễn không giống thủy quân của Tây Sơn… Xây dựng kịch bản và đạo diễn muốn sân khấu hoá là đúng nhưng không thể đối lập với lịch sử, vi phạm đến các nguyên tắc cơ bản của lịch sử. Nếu như vậy, lễ hội sẽ không có giá trị. Nếu bỏ qua nguyên tắc này thì lễ hội có thể vay mượn được để chuyển từ chỗ này qua chỗ khác, không phân biệt được đặc trưng của các giai đoạn lịch sử.
Có cơ chế thích hợp
Giải pháp này chung cho các loại hình du lịch như điều kiện về pháp lý, an toàn và an ninh, môi trường, thông tin, sức khoẻ, cơ sở vật chất, giải trí…
Riêng về lễ hội văn hóa, chính quyền địa phương phải tạo ra tính tương thích giữa văn hóa và du lịch, được đảm bảo bằng cơ sở pháp lý để đứa con sinh đôi này ngày càng khỏe mạnh, thông minh để giúp ích cho đời.
Trên đây là ý tưởng để xây dựng Huế có thương hiệu đặc trưng của du lịch Việt Nam, dữ liệu của báo cáo này có thể chưa đầy đủ nhưng dự báo về một nền du lịch phát triển của Thừa Thiên Huế là lạc quan. 

PGS.TS Đỗ Bang - Chủ tịch Hội KHLS TT-Huế

Nguồn: Sở VHTTDL Thừa Thiên Huế
Chuyên mục: