Hiển thị các bài đăng có nhãn Di tích lịch sử văn hóa. Hiển thị tất cả bài đăng

Đền thờ Nguyễn Trung Trực


Vị trí - Địa điểm:
Nằm ở phía tây của trung tâm thị xã Rạch Giá, trên đường Nguyễn Công Trứ.
Cấp bậc - xếp hạng:
Di tích lịch sử văn hoá theo Quyết định của Bộ Văn Hoá-Thông tin năm 1988.
- Cơ quan quản lý:
Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch

*  Giới thiệu chung:
Cụ Nguyễn Trung Trực, anh hùng dân tộc, vốn là một người dân chài ở Bình Định. Nhân dân tỉnh Kiên Giang gọi Nguyễn Trung Trực bằng "Ông", "Cụ" hoặc "Cụ Nguyễn" vì kiêng gọi tên húy. "Cụ Nguyễn" bị giặc Pháp đưa ra pháp trường lúc mới 30 tuổi. Cuộc đời ông tuy ngắn ngủi nhưng rất hào hùng, với những chiến công hiển hách đã đi vào lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc. Để tưởng nhớ đến ông, ở Kiên Giang có rất nhiều miếu thờ Cụ Nguyễn.
Mặt đền quay ra cửa biển và cách biển khoảng 100m. Năm 1869, đền chỉ là ngôi nhà nhỏ bằng gỗ, mái lợp lá, do người dân chài dựng lên để thờ thần Nam Hải (cá voi). Mỗi năm đến ngày mất của Cụ, nhân dân các nơi tụ tập về đây tổ chức cúng cơm cho Cụ. Qua nhiều lần sửa chữa và mở rộng vào các năm 1881-1964-1970, ngôi đền đã khang trang hơn.
Ngôi đền hiện nay được khởi công xây dựng vào ngày 20-12-1964, khánh thành ngày 24-2-1970, do kiến trúc sư Nguyễn Văn Lợi thiết kế, toàn bộ kinh phí xây dựng do nhân dân đóng góp. Đền được xây dựng theo kiểu chữ tam, gồm có chánh điện, đông lang và tây lang. Cột kèo bằng bê tông, mái lợp ngói. Cổng đền ba cửa (dạng cổng tam quan). Trước cửa chánh điện có một lư hương bằng đá, trên nóc mái đền được trang trí cảnh "lưỡng long tranh trân châu", các góc mái đắp hình lá cúc cách điệu và hình rồng. Tất cả các mảng phù điêu trên được làm bằng xi măng cẩn những mảnh gốm nhiều màu rất đẹp. Cửa đình có hai cột đắp nổi hình rồng uốn lượn từ dưới lên quấn quanh cột, biểu tượng cho uy quyền và sức mạnh.
Trong đền có 10 cây cột bằng bê tông, mỗi cột có chân hình bát giác, phía trên hình bát giác có đắp nối hai lớp cánh sen. Trong chánh điện có rất nhiều bài vị thờ. Phía ngoài là bài vị Chánh soái Đại càn, di ảnh Nguyễn Trung Trực, chư vị hội đồng trăm quan cựu thần, thờ tiền hiền, đồng bào nghĩa quân liệt sĩ. Phía trong có ba ngai thờ chính của đền: chính giữa là ngai thờ Nguyễn Trung Trực; bên trái là ngai thờ cụ Phó cơ Nguyễn Hiền Điều, Phó lãnh binh Lâm Quang Ky; bên phải là ngai thờ thần Nam Hải đại tướng quân. Trên nóc đền có bức hoành phi ghi 4 chữ "anh khí như hồng", nghĩa là khí tiết của người anh hùng rực rỡ như cầu vồng bảy sắc.
Rời khỏi đền, là đến khu mộ Cụ nằm ở phía tây đền thờ, xây hình chữ nhật, đặt xuôi theo đền. Phía sau mộ là bức tường hình chữ nhật cao khoảng 2m, rộng hơn 1m, trên tấm bia khắc: Anh hùng Nguyễn Trung Trực (1838-1868). Ở góc phải mộ có một tảng đá nhỏ ghi lại quá trình xây mộ Cụ Nguyễn. Ngày đặt viên đá đầu tiên là ngày 18-10-1986. Xung quanh mộ Cụ, cây lá bốn mùa tươi tốt.
Nói đến Nguyễn Trung Trực, nhiều người đã biết đến chiến công vang dội đốt cháy tàu Espe’rance (Hy Vọng) của Pháp năm 1861 trên vàm Nhật Tảo. Và biết đến ông với câu nói bất hủ trước mặt kẻ thù: "Bao giờ Tây nhổ hết cỏ nước Nam mới hết người Nam đánh Tây".
Chuyên mục: ,

Nhà tù Phú Quốc

Vị trí - Địa điểm:
Thuộc xã An Thới, huyện đảo Phú Quốc.
Cấp bậc - xếp hạng:
Di tích lịch sử theo Quyết định của Bộ Văn Hoá-Thông tin năm 1993.
- Cơ quan quản lý:
Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch
*  Giới thiệu chung:
Từ một nhà tù với quy mô gần 500 nhà giam, đến nay chỉ còn lại 4 nhà nguyên gốc cùng một số cổng chào, bộ khung cửa nhà thờ và các nền đá… Nhiều khách tham quan đã đến thăm khu di tích lịch sử này – nơi một thời từng được mệnh danh là “địa ngục trần gian”.
Những năm qua, tỉnh Kiên Giang đã phục hồi, tôn tạo một số hạng mục công trình như: 5 nhà tiền chế gồm nhà giam, nhà ăn, nhà bếp và hai nhà canh giữ của giám thị; phục hồi đường ngầm vượt ngục, một đoạn hàng rào kẽm gai, chòi canh, chuồng cọp, đài tưởng niệm ở nghĩa địa tù binh và nhà trưng bày bổ sung di tích… Năm 2005, các hạng mục này được hoàn thành đi vào hoạt động phục vụ khách tham quan, mỗi năm đã có hàng trăm ngàn lượt người đến thăm di tích.
Từ thời thực dân Pháp tiếp đến thời Mỹ-Ngụy, Nhà tù Phú Quốc đã tồn tại 20 năm (1953 - 1973). Đây là nơi tập trung điển hình về tội ác của chế độ thực dân, đế quốc. Ở đây kẻ thù tự do đặt ra nhiều kiểu hành hạ con người một cách  dã man. Quản tù là những tên khát máu hành hạ tra tấn tù binh, vì thế hơn 4.000 người đã hy sinh trong tù. Với ý chí kiên cường, dũng cảm, mưu trí, anh em tù binh đã đối phó lại chúng bằng nhiều hình thức đấu tranh từ thấp đến cao, phân hóa hàng ngũ địch, diệt ác ôn, tổ chức nhiều cuộc vượt ngục… Nhà tù Phú Quốc thực sự là một bằng chứng xác thực ghi dấu tội ác vô cùng dã man của bọn xâm lược, đồng thời nói lên tinh thần bất khuất đấu tranh kiên cường của các chiến sĩ cách mạng.
Chuyên mục: ,

Chùa Tổng Quản

Vị trí - Địa điểm:
Thuộc xã Thới Quản, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.
Cấp bậc - xếp hạng:
Di tích lịch sử cách mạng theo Quyết định của Bộ Văn Hoá-Thông tin năm 2005.
- Cơ quan quản lý:
Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch

*  Giới thiệu chung:
Chùa SARÂY SUASĐÂY Tổng Quản có tuổi đời trên 300 năm. Nơi đây không chỉ là nơi sinh họat văn hóa tinh thần gắn liền với lịch sử cộng đồng dân cư, mà còn là nơi ghi dấu lịch sử cách mạng suốt 2 thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược.
Cuối thế kỷ thứ 17, dưới sự trụ trì của hòa thượng Danh Hòang (Tà Hoang) đồng bào người kinh và phật tử ở đây đã khai phá rừng hoang,đuổi thú dữ, dựng lên một ngôi chùa thờ phật. Khi mới dựng, ngôi chùa có tên gọi theo tiếng Khmer là KOMPÔNG KROBÂY (Chùa Bến trâu). Đến năm 1948, chùa Tổng Quản được xây dựng lại bằng vật liệu kiên cố ( chỉ giữ cột kèo cũ ) với lối kiến trúc đặc sắc của ngôi chùa khmer truyền thống.
Từ năm 1952 chùa được gọi là WATT SARÂY SUASĐÂY (Chùa Tự do - Hạnh phúc) đồng bào địa phương cũng quen gọi là chùa Tổng quản. Ban đầu chùa được xây dựng bằng cây, lợp lá gồm có một chánh điện,một liêu phòng với số ít tu sĩ. Cũng chính từ đây, người dân có nơi sinh họat văn hóa tinh thần, càng đòan kết gắn bó cộng đồng cùng nhau chung sức chung lòng bảo vệ và xây dựng quê hương. Sau dần chùa Tổng quản trở thành trung tâm sinh họat văn hóa truyền thống của nhân dân xã Thới Quản nói riêng, bà con Khmer ở Gò Quao nói chung. Các vị sư ngòai việc chăm sóc, truyền đạo còn lo việc tu sửa, xây dựng mở rộng chùa.
Từ khi thành lập đến nay, chùa Tổng Quản trải qua 21 đời vị trụ trì ( gồm có 7 hòa thượng, thượng tọa và 14 vị đại đức ). Các vị đã cùng nhân dân các dân tộc ( Kinh, Hoa, Khmer ) ở Kiên Giang chung sức, chung lòng, đòan kết xây dựng quê hương,nối tiếp truyền thống yêu nước cùng các cán bộ cách mạng hoạt động và đấu tranh trực diện với quân thù,chống địch bắn phá chùa chiền giết hại sư sải,khủng bố đàn áp dân tộc. 
Hòa thượng Nam Huân ( pháp danh INDA THERA NAM HUAN ), sinh ngày 15-4-1899 tại  ấp Xuân Bình, xã Thới Quản, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang, từ năm 1930 – 1943 được bầu làm phó trụ trì chùa đến năm 1944 trở thành trụ trì chùa Tổng Quản. Từ khi làm trụ trì chùa,hòa thượng Nam Huân tham gia công việc cách mạng, xây dựng chùa Tổng Quản trở thành cơ sở vững chắc cho cách mạng trong suốt hai thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Hòa thượng đã ra sức tu bổ chùa chấn chỉnh nề nếp và đào tạo được hàng trăm đệ tử,sau có nhiều người tích cực tham gia cách mạng.
Ông Danh sức, thời kháng chiến là phó trụ trì chùa người thân cận của hòa thượng Nam Huân, nay là phó ban Quản trị chùa Tổng Quản. Chánh điện chùa là nơi đã nhiều lần tổ chức các cuộc họp của Hội đòan kết sư sải yêu nước tỉnh và Ban Vận động đấu tranh chính trị của sư sải trong tỉnh Rạch Giá. Chùa Tổng quản vẫn có vị trí xứng đáng trong cuộc đấu tranh chung. Nhiều cuộc gặp mặt của của các vị đại đức trụ trì chùa trong tỉnh đã diễn ra ở trong chánh điện của chùa, khi các vị sư có thư mời của đại đức Danh Song (Tà Song) thay mặt cho Hội đòan kết sư sải yêu nước tỉnh Rạch Gía.Trong các lần họp đó đều có mặt  cán bộ lãnh đạo cách mạng từ khu cho đến tỉnh huyện tham dự như các đồng chí : Thạch Đông, Quách Phẩm, Huỳnh Cương… để nói chuyện tình hình thời sự, động viên các vị sư đòan kết chống thù trong, giặc ngoài.
Liêu phòng của đại đức Danh Song phó trụ trì chùa có 2 Hầm bí mật để nuôi cán bộ họat động cách mạng trong thời kỳ chống Mỹ; đồng thời cũng là nơi cất giấu vũ khí. Hai căn hầm bí mật tại ngôi chùa này đã nuôi giấu cả các đồng chí Trần Văn Hiền ( Năm Hiền ) – Thường vụ tỉnh ủy, đồng chí  Thạch Đông Tùng ( Sáu Tùng )Uy viên Ban Tuyên Huấn Khu Tây Nam Bộ được tăng cường xuống làm phó bí thư huyện ủy châu thành, đồng chí Quách Phẩm( Tư Phẩm ) trưởng Ban Khmer Vận tỉnh Rạch Giá….. và nhiều đồng chí cán bộ khác. 
Trong giai đọan 1970 – 1975,Đồng chí Thạch Đông đã trực tiếp lãnh đạo các chùa chiền, sư sải và nhân dân biểu tình, chống giặc. Nơi đây không chỉ nuôi giấu cán bộ,hội họp… Các vị sư còn tổ chức thành công nhiều đợt chuyên chở vũ khí đạn dược,thuốc men từ các nơi về cơ sở. Từ tháng 4 năm 1966 đến tháng 8 năm 1968 tổng cộng chở 31 chuyến hàng bằng vỏ máy, 54 bao thuốc chửa bệnh, thuốc bổ các lọai và súng đạn….  Chùa là nơi tập trung vận động bà con tổ chức các cuộc đấu tranh, biểu tình và chiến đấu với kẻ thù cũng diễn ra liên tục trong khỏang thời gian từ năm 1959 – 1974. Công tác binh vận, địch vận cũng được các sư ở chùa Tổng quản đặc biệt quan tâm. Với những công lao và thành tích trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, 3 vị  hòa thượng Danh Huân (Nam Huân) trụ trì chùa,đại đức Danh Song, đại đức Danh Tôn vinh dự được chủ tịch nước tặng Huân chương kháng chiến chống mỹ cứu nước hạng nhất.
Chiến tranh đã đi qua, lịch sử đã ghi nhận nơi đây là di tích lịch sử- văn hóa cấp Quốc Gia. Được sự hổ trợ kinh phí của Nhà nước và phật tử bổn tự đóng góp, công đức và vật chất. Đây là niềm vui chung của cộng đồng ba dân tộc anh em: Khmer, kinh, Hoa. Bởi từ bao đời nay họ luôn đòan kết, chung sức, chung lòng giữ gìn và phát huy truyền thống văn hoá dân tộc, đặc biệt là bản sắc và truyền thống  Phật giáo Nam tông ( MAHANY KAY).
Chùa tổng Quản không chỉ là một di tích lịch sử mà còn là di tích kiến trúc nghệ thuật đặc sắc của một ngôi chùa khmer truyền thống. Ngôi chùa đã được xây dựng và bảo tồn trên đất Kiên Giang hơn 3 thế kỷ. Hơn 3 thế kỷ trôi qua, chùa Tổng Quản vẫn luôn là niềm tự hào của các vị sư sải, phật tử đồng bào dân tộc Khmer và luôn đồng hành cùng sự phát triển đi lên của dân tộc trên mảnh đất tây nam này.
Theo KG
Chuyên mục: ,

Chùa Sắc Tứ Tam Bảo

Vị trí - Địa điểm:
Chùa tọa lạc tại số 6 đường Thích Thiện Ân, thị xã Rạch Giá
Cấp bậc - xếp hạng:
Chùa đã được Bộ Văn Hóa ra quyết định công nhận di tích lịch sử - văn hóa vào ngày 23-3-1988.
- Cơ quan quản lý:
Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch
*  Giới thiệu chung:
Tỉnh Kiên Giang có hai ngôi chùa nổi tiếng đều tên là Tam Bảo: một chùa ở Rạch Giá, một chùa ở Hà Tiên. Chùa Tam Bảo ở Rạch Giá vốn là nơi tu hành của bà Dương Thị Cán tục gọi là bà Hoặng. Bà là ân nhân đã giúp đỡ Nguyễn Ánh lúc còn bôn ba, nên sau khi vua Gia Long lên ngôi, chùa này được Vua sắc tứ để tạ ơn.
Từ trên đường Nguyễn Trung Trực, du khách đã thấy tấm bản đề "Sắc tứ Tam Bảo Tự". Ngôi chánh điện của chùa kiến trúc theo kiểu thượng lầu hạ hiên. Ở mặt tiền bên trên hàng hiên là ngọn bảo tháp ba tầng tượng trưng Cửu phẩm Liên hoa. Chánh điện có chiều ngang 14,50m, chiều dọc 22m. Năm bao lam ở các bàn thờ được chạm trổ công phu, thếp vàng rực rỡ. Các tượng Phật Di-đà, Thích-ca và các vị Bồ-tát được bài trí trang nghiêm.
Đông lang được dùng làm phòng khách và phòng làm việc của Hòa thượng trụ trì. Tây lang và giảng đường của chùa được dùng làm Tuệ Tĩnh đường, nơi chữa bệnh miễn phí cho đồng bào.
Lịch sử chùa Sắc tứ Tam Bảo gắn liền với tên tuổi Hòa thượng Thích Trí Thiền, thế danh là Nguyễn Văn Đồng, sinh năm 1882, tịch năm 1943. Chính Ngài đã chăm lo việc trùng kiến ngôi chùa như ta thấy hiện nay vào năm 1917. Hòa thượng Trí Thiền cũng là người có công sáng lập Hội Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học vào năm 1931. Hội này đặt trụ sở tại chùa Linh Sơn, số 149 đường Douaumont (nay là Cô Giang), Saigon. Hội xuất bản tạp chí Từ Bi Âm để truyền bá giáo lý, lập Pháp Bảo phường, thỉnh Tam Tạng Kinh làm tài liệu nghiên cứu.
Sau đó Hòa thượng Trí Thiền và sư Thiện Chiếu trở về Rạch Giá lập Phật giáo Kiêm Tế Hội, chủ trương vừa truyền bá giáo lý nhà Phật, vừa vận động tín đồ làm công tác xã hội. Sau Nam Kỳ khởi nghĩa, một số cán bộ mượn chùa Tam Bảo làm nơi chế tạc đạn, chuẩn bị nổi dậy chống Pháp. Nhưng công việc bị phát hiện, Hòa thượng Trí Thiền can đảm nhận trách nhiệm nên bị thực dân Pháp bắt đầy ra Côn Đảo và hi sinh tại đó năm 1943. Một đệ tử của Ngài là nhà sư trẻ Thiện Ân, lúc bị địch bắt, đã dũng cảm hi sinh bằng cách cho tạc đạn nổ để tiêu diệt bọn mật thám. Tấm lòng ưu dân ái quốc của các vị sư ở chùa Tam Bảo đã được Hòa thượng Thích Bổn Châu, nhắc tới trong tập thơ Việt Nam anh kiệt.
Ngày nay, chùa đặt văn phòng Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo Kiên Giang .
Đây là căn cứ quan trọng của Đảng ta trong những năm 1943-1945. Nhiều đồng chí lãnh đạo cách mạng của Đảng như: Võ Nguyên Giáp, Hoàng VănThái, Lê Dục Tôn, Nông Văn Quang, Nông Văn Lạc, Chu Văn Tấn… đã sống và làm việc tại Bản Bẳng.
Trong thời gian họat động cách mạng ở Cao Bằng, nắm rõ phong trào cách mạng trong nước, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã chỉ thị cho lãnh đạo hai căn cứ cách mạng Cao Bằng và Bắc Sơn- Võ Nhai mở “con đường quần chúng cách mạng” nhằm khai thông liên lạc từ hai căn cứ cách mạng này với Trung ương Đảng ở miền xuôi.
nguonbaccan
Chuyên mục: ,

Chùa Hang

Lối vào Chùa Hang
Vị trí - Địa điểm:
Nằm ở xã An Bình, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang.
Cấp bậc - xếp hạng:
Chùa đã được Bộ Văn Hóa ra quyết định công nhận di tích lịch sử - văn hóa vào ngày 23-3-1988.
- Cơ quan quản lý:
Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch
*  Giới thiệu chung:
Chùa Hang là ngôi “Phật động” nổi tiếng, nằm trong ruột núi đá thâm u, mờ ảo. Chùa có tên chữ là Hải Sơn Tự. Truyền thuyết kể rằng: Công chúa Ngọc Tuyền là em gái chúa Nguyễn Ánh, đã mất tại đây trong khi đang trốn nghĩa quân Tây Sơn. Sau này để tưởng nhớ người em gái của mình, Nguyễn Ánh cho xây chùa trong hang núi để thờ phụng nên gọi là Chùa Hang. Địa thế núi Hải Sơn nằm sát bờ, sóng biển đập vào chân núi quanh năm. Núi cao chót vót, vách dựng đứng, sừng sững như một hải vọng đài.
Trước sân chùa thờ tượng Phật Di Lặc bằng đá Non Nước (Đà Nẵng) nặng tới 22 tấn. Ngẩng nhìn lên không gian phía trên là vách núi có nhiều cây cổ thụ đứng cheo leo, buông ra giữa khoảng không những chùm rễ dài lơ lửng. Chánh điện nằm gọn trong lòng núi với một động đá vôi hai cửa chạy thẳng theo trục Đông Bắc –Tây Nam chiều dài hơn 50 mét, cửa động sau nhìn thông ra biển. Đây là hang động thiên nhiên trong ngọn núi đá vôi bị nước biển xâm thực cách đây hàng ngàn năm nên hết sức độc đáo. Căn cứ vào diêm hào và vỏ sò hến ở các khe đá trên đỉnh núi người ta phỏng đoán vài vạn năm trước, núi Chùa Hang nằm dưới mực nước biển.
Động có nhiều thạch nhũ muôn hình, muôn vẻ, khi ta gõ vào các thạch nhũ thì âm thanh ngân lên như tiếng chuông. Vì vậy, người ta gọi là đá chuông. Trong động là Hang Kim Cương có đường lên trời, còn Hang Phật Ngủ thì nửa tối nửa sáng với tảng đá hình Phật nằm. Động sâu thăm thẳm, những tượng Phật lung linh ẩn hiện tạo nên cảm giác tôn nghiêm huyền bí. Từ chánh điện có đường hang thông ra bờ biển, chỗ hẹp nhất cũng vừa khoảng 3-4 người đi lọt. Đường hang nhỏ và thẳng. Đi khoảng mươi mười lăm phút theo lòng hang ngoằn ngoèo trong ruột núi, cuối cùng bạn sẽ nghe những ngọn gió từ biển thổi vào mát rượi, oà ra trước mặt là một khoảng sáng. Cửa hang phía sau này nằm sát biển. Du khách tiếp tục đi thẳng khoảng 60 mét thì đến biển, nhìn thấy Hòn Phụ Tử, chân bước trên bờ cát mịn, đến gần với thiên nhiên và hít thở không khí trong lành. Hàng năm, Chùa Hang tổ chức lễ hội long trọng từ ngày mùng 8 kéo dài đến ngày 15 tháng 4 âm lịch.
Theo DL
Chuyên mục: ,

Đồi Ma Thiên Lãnh

Đồi Ma Thiên Lãnh

Vị trí - Địa điểm:
Nằm ở khu vực núi Dài thuộc căn cứ Ô Tà Sóc, xã Lương Phi, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang.
Cấp bậc - xếp hạng:
 
- Cơ quan quản lý:
 

*  Giới thiệu chung:
Tên Ma Thiên Lãnh, không rõ nguồn gốc do ai đặt ra, nhưng theo các vị lão thành cách mạng địa phương - Đồi Ma Thiên Lãnh đã có địa danh từ những năm đầu kháng chiến chống Pháp ( 1945), cùng với Bụng Ông Địa, Vồ Cờ, Vồ Cỏ Sả … nằm trong núi Dài (Ngoạ Long Sơn) – Một trong Bảy Núi (Thất Sơn) có chiều dài nhất và cao sau núi Cấm. Nếu Núi Dài cao 580 mét, thì Đồi Ma Thiên Lãnh có độ cao ước 80 mét và rộng hơn 1500m2. Là một đồi đá gộp có hang động chứa được trên dưới mười người. Và chỉ có một con đường độc đạo vào hang từ phía Tây – Bụng Ông Địa lên.
Đồi tách biệt quần thể Ô Tà Sóc hơn 1.000 mét về phía Tây và nhô ra, cao hơn Bụng Ông Địa khoảng 50 mét về phía Đông. Nơi có vị trí chiến lược về tầm quan sát, một vùng rộng lớn từ Ô Tà Sóc, phum Tà Dung và vùng xóm Mới (An Ninh) lên xóm Thúng (An Nhơn) của xã Lương Phi. Trên đồi, ngoài tảng đá gộp lớn là một số cây cổ thụ như Tung, Bằng lăng núi, Dông rừng… và có dây leo bám đá, lý tưởng cho một đài quan sát có cây rừng nguỵ trang trong chiến đấu trước kẻ thù xâm lược – khi ấy Mỹ– Nguỵ đang tăng cường nhiều đợt tập kích, đánh vào Ô Tà Sóc, Núi Dài bằng máy bay, xe tăng và bộ binh đông gấp trăm lần lực lượng cách mạng.
Từ đầu năm 1968, 1969 các đoàn E 61, 69 chủ lực Miền được trên chi viện về vùng Bảy Núi, nhất là Núi Dài, Núi Tô… và chốt tiền tiêu ước một tiểu đội trong chiến tranh (từ 6 – 10 đồng chí), đã đóng trong hang Ma Thiên Lãnh để trực đài quan sát, nắm địch tấn công vào Ô Tà Sóc, Núi Dài từ trên không và đồng bằng lên. Một vài chú bác lãnh đạo Tỉnh An Giang và cựu chiến binh đoàn 61, 69… từng đóng căn cứ tại Ô Tà Sóc, Núi Dài, Bụng Ông Địa kể lại rằng: “ Có rất nhiều đợt tấn công của địch vào giữa năm 1969. Tổ tiền tiêu đã phát hiện, thông tin cho các đơn vị, đoàn chủ lực và địa phương tình hình địch và cùng hiệp đồng tác chiến lại với chúng. Vì thế, điểm hang Ma Thiên Lãnh là một trong những mục tiêu tìm diệt của địch – cả máy bay, xe tăng, pháo tầm xa…Và trong một đêm yên ắng, sau những đợt tấn công bằng xe tăng, bộ binh và B52 vào Ô Tà Sóc, Núi Dài.
Trái bom loại 500 ký, hay một tấn, từng được chúng ném vào các lò ảng, công sự trong hang đá… chiến sĩ ta đều biết cách phòng tránh rất an toàn. Nhưng đêm đó, quả bom rớt ngay vào miệng hang Ma Thiên Lãnh, làm bể tảng đá và ém chặt cửa hang ra vào. Không cách nào khác lúc ấy là động viên anh em ráng ở trong đó. Bên ngoài, các lực lượng đào tìm lối vào và phân công nhau chuyền cơm, cháo, nước vào hang bằng ống tre được thụt rỗng các mắc… nhưng cho đến ngày thứ ba, thứ tư… thì địch tấn công liên tục, một số cán bộ địa phương phải chuyển căn cứ, các đoàn chủ lực cũng được trên điều về vùng U Minh chiến đấu. Đành phải chia tay các đòng chí kẹt trong hang!
Tại đây đã đặt Bia tưởng niệm các liệt sĩ vô danh đã vĩnh viễn nằm lại nơi đây với dòng bia tưởng niệm: “Năm chiến sĩ chốt tiền tiêu thuộc đại đội 8, tiểu đoàn 5, đoàn 61 đã anh dũng hy sinh trong trận đánh quyết liệt với quân địch, kéo dài nhiều ngày trong tháng 9/1969. Quân Mỹ dùng loại bom đặc biệt đánh sập miệng hang Ma Thiên Lãnh. Các liệt sĩ vĩnh viễn nằm tại nơi đây.” Phía trên bia có lá cờ Tổ quốc và dưới có bàn thờ, lư hương trang trọng trước miệng hang – để các ngày Lễ, Tết địa phương và đoàn về nguồn, lên đây tưởng niệm, thăm viếng các anh.
Theo St
Chuyên mục: ,

Thánh đường Mubarak

Vị trí - Địa điểm:
Thuộc xã Phú Hiệp, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.
Cấp bậc - xếp hạng:
 
- Cơ quan quản lý:
 
*  Giới thiệu chung:
An Giang là tỉnh của Đồng Bằng Sông Cửu Long có đa tộc bao gồm: Kinh– Khmer – Hoa – Chăm. Tỉnh An Giang có trên 12.000 đồng bào thuộc dân tộc Chăm. Khác với đồng bào Chăm ở Ninh Thuận, người Chăm ở An Giang đều theo đạo Hồi. Trong khu vực cư trú của đồng bào Chăm ở An Giang có rất nhiều chùa lớn, nhỏ (thường gọi lá Thánh đường) mà tiêu biểu và nổi bật nhất là Thánh đường Mubarak ở Châu Giang.
Thánh đường này được xem là một công trình kiến trúc nghệ thuật rất độc đáo với đường nét riêng mang đậm tính tôn giáo của dân tộc Chăm theo đạo Hồi, được coi như là một trong những trung tâm sinh hoạt văn hóa của đồng bào Chăm Châu Giang. Chính vì thế mà thánh đường Mubarak được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật vào ngày 5-12-1989.
Thánh đường Mubarak được xây dựng và sửa chữa qua 5 lần, công sức và kinh phí hoàn toàn do tín đồ trong đạo đóng góp. Chùa xây dựng lần cuối cùng do kiến trúc sư Môhamed Amin người Ấn Độ vẽ mẫu thiết kế dựa theo các kiểu chùa ở Ả-Rập Xê Út. Cổng chính vào thánh đường là hình vòng cung, phía trước, trên nóc có một tháp lớn 2 tầng, nóc tháp hình bầu dục, dưới chân tháp có hình trăng lưỡi liềm và ngôi sao, tượng trưng cho đạo Hồi. Bốn góc trên nóc chùa đều có 4 tháp nhỏ, giữa nóc nhà có 2 tháp bầu tròn nhô cao. Từ cửa chính của thánh đường trở ra hai bên, mỗi bên có hai vòm hình vòng cung nhọn đầu, mỗi vòm cách nhau 2.4m bên hông thánh đường, phía tay trái và tay phải, mỗi bên cũng có 6 vòm hình vòng cung nhọn đầu, mỗi vòm cách nhau 2.4m. Nhìn từ xa ngôi nhà giống các kiến trúc cổ ở Ấn Độ, Ba Tư. Bên trong thánh đường do đặc điểm của đạo Hồi nên không thờ bất cứ hình tượng thần thánh nào, tín đồ đạo Hồi chỉ tôn trọng tuyệt đối thánh Allah là vị thượng đế cao nhất.
Ở đây hàng năm tổ chức 3 lần lễ lớn: lễ Roja vào ngày 10 tháng 12 lịch Hồi lịch (3-7 dương lịch), lễ Ramadan (còn gọi là tháng ăn chay) kéo dài từ ngày 1 đến 30 tháng 9 lịch Hồi lịch (27-4 dương lịch), lễ sinh nhật của giáo chủ Muhammed (người sáng lập đạo Hồi) vào 12 tháng 3 Hồi lịch . Trong những dịp lễ lớn này, cả đồng bào Việt cùng đồng bào Chăm quanh vùng tề tựu về đây sinh hoạt rất đông vui.
Chính những trình kiến trúc nghệ thuật mang đậm màu sắc tôn giáo đã tạo nên sự độc đáo của thánh đường. Bên cạnh đó, những cảnh đẹp thiên nhiên xung quanh thánh đường đã làm tăng thêm vẻ đẹp của di tích.
Hàng năm có rất nhiều du khách về đây chiêm ngưỡng các đường nét kiến trúc độc đáo và thưởng thức cảnh đẹp.
Chuyên mục: ,

Nhà thờ cổ Cù Lao Giềng

Vị trí - Địa điểm:
Thuộc huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
Cấp bậc - xếp hạng:
 
- Cơ quan quản lý:
 
*  Giới thiệu chung:
Nơi đây vào thời thuộc Pháp đã xây dựng nên một nhà thờ thuộc họ đạo thiên chúa và dân địa phương đặt tên là nhà thờ Giêng vì toạ lạc trên đất Cù Lao Giêng. Đây là công trình kiến trúc địa phương do Pháp xây dựng vào năm 1872, tại xã Tấn Mỹ, huyện Chợ Mới.
Nơi này còn là cơ sở đào tạo Linh Mục (lúc bấy giờ) cơ sở chỉ hoạt động đến 1946. Bên cạnh đó, cũng tại cù lao này còn có dòng nữ tu Providence (Chúa Quan Phòng), cùng do các nữ tu người Pháp lập ra vào năm 1874.
Thời thuộc Pháp tại tu viện này còn là nơi thu nhận trẻ em mồ côi và những người già bệnh tật. Chính vì vậy, dòng nữ tu Chúa Quang Phòng đã được nhiều giáo dân ở miền Tây Nam Bộ và kể cả Campuchia đều biết đến. Tuy nhiên, hiện nay Phòng chính của dòng nữ tu này được đặt cơ sở tại TP. Cần Thơ. Còn cơ sở ở Cù Lao Giêng chỉ là nơi an dưỡng của các nữ tu già yếu thuộc dòng này.
Chuyên mục: ,

Nhà mồ Ba Chúc

Vị trí - Địa điểm:
Nằm ở xã Ba Chúc.
Cấp bậc - xếp hạng:
Di tích lịch sử theo Quyết định của Bộ Văn Hoá-Thông tin năm 1980.
- Cơ quan quản lý:
Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch
*  Giới thiệu chung:
Nhà mồ Ba Chúc, Chùa Phi Lai và Chùa Tam Bửu là những di tích được Nhà nước công nhận là di tích vào năm 1980, là những địa điểm ghi dấu tội ác man rợ của bọn diệt chủng Pôn – Pốt qua 11 ngày (từ 18/4/1978 đến ngày 29/4/1978) đã xâm lược và sát hại hàng ngàn người dân xã Ba Chúc.
Nhà mồ Ba Chúc có hình lục giác, mỗi trụ cột đỡ mái nhà được kiến trúc hình tượng như bày tay đẫm máu đang vươn thẳng lên. Bên trong nhà mồ là một khung hộp kính tám cạnh, chứa đựng 1.159 bộ hài cốt được phân thành nhiều loại khác nhau như: độ tuổi, giới tính …
Nhà mồ được xây dựng giữa hai ngôi chùa Phi Lai và Tam Bửu, đây là hai ngôi chùa do các tín đồ của đạo Hiếu Nghĩa dựng lên và cũng là nơi nhân dân xã Ba Chúc đã trú ẩn tránh sự càn quét đẫm máu của bọn Pôn – Pốt, cũng chính nơi đây đã trở thành nơi chứng kiến những tội ác của chúng và những chứng tích đó vẫn còn in dấu cho đến ngày nay.
Chuyên mục: ,

Lăng Thoại Ngọc Hầu

Vị trí - Địa điểm:
Thuộc xã Vĩnh Tế, thị xã Châu Ðốc, tỉnh An Giang
Cấp bậc - xếp hạng:
 
- Cơ quan quản lý:
 
*  Giới thiệu chung:
Lăng Thoại Ngọc Hầu là một trong số nhiều di tích ở chân núi Sam. Tại đây có đền thờ ông Thoại Ngọc Hầu, mộ ông cùng hai phu nhân được xây vào thập niên 30 của thế kỷ 20. 
Thoại Ngọc Hầu tên thật là Nguyễn Văn Thoại, một danh tướng nổi tiếng của triều Nguyễn. Ông sinh ngày 25/11/1761 tại Diên Phước, tỉnh Quảng Nam, được phong tước Ngọc Hầu. Ông mất ngày 06/6/1829.
Khung cảnh uy nghiêm của lăng Thoại Ngọc Hầu gợi cho du khách những hoài cảm về người xưa, về công đức của những bậc tiền bối, gây ấn tượng sâu xa, luyến tiếc cho những gì không thể tìm lại được của quá khứ.
Phía trước lăng là khoảng sân rộng. Hai bà vợ của ông được chôn cất tại đây. Bà Nhất phẩm Châu Vĩnh Tế chôn phía tay phải, bà Nhị phẩm Trương Thị Miệt chôn phía tay trái, mộ ông nằm chính giữa. Trong Long Đình là bản sao bia "Thoại Sơn", bia "Vĩnh Tế Sơn". Trước Long Đình là hai con nai đắp bằng xi măng. Hai cửa lớn vào lăng rộng, hình bán nguyệt, kiến trúc theo lối cổ, liền với bức tường kiên cố dày 1m, cao 3m. Sau lăng là đền thờ trên nền cao hơn. Sau lưng đền thờ là sườn núi Sam tạo thành thế vững chắc kiên cố, tôn lên nét cổ kính uy nghi. Vào lăng, du khách sẽ được chiêm ngưỡng tượng Thoại Ngọc Hầu cao khoảng hai mét cùng những áng văn chương lộng lẫy, với liễn đối, hoành phi, văn bia, văn tế... gợi lại hình ảnh nước non một thời oanh liệt.
Thoại Ngọc Hầu được triều đình nhà Nguyễn phong tước hầu cử vào khai phá trấn giữ An Giang. Ông đã tập hợp lưu dân hai tỉnh Quảng Nam - Quảng Ngãi về ở các vùng Ông Chưởng (Chợ Mới), Núi Sập (Thoại Sơn), Châu Đốc, Long Xuyên... Ông là người tổ chức đào kênh Thoại Hà (con kênh có bề ngang 20 tầm - chừng 51m, dài 31.744m) và kênh Vĩnh Tế dài hơn 90km. Đào hai con kênh ấy trong thời kỳ công cụ lao động thô sơ và bằng tay, chân quả là việc làm thần kỳ. Sau khi hoàn tất việc đào kênh, Thoại Ngọc Hầu cho vẽ bản đồ trình triều đình Huế, được vua khen ngợi ban sắc chỉ cho lấy tên người mà đặt cho tên kênh là Thoại Hà (kênh Thoại) và lấy tên vợ chính của ông là Vĩnh Tế đặt cho kênh Vĩnh Tế. Để đánh dấu những công trình này, Thoại Ngọc Hầu cho dựng bia làm kỷ niệm: bia Thoại Sơn, Vĩnh Tế Sơn. Đồng thời trước ngày dựng bia, Ông cho nhiều toán người đi dọc hai bờ kênh, từ Châu Đốc đến Hà Tiên tìm hài cốt những dân binh tử nạn mang về cải táng hai bên tả và hữu khuôn lăng. Trong buổi lễ long trọng dựng bia kỷ niệm có đọc bài "Tế nghĩa trũng văn", do Thoại Ngọc Hầu đứng ra chủ lễ. "Nghĩa trũng văn" là bài thơ tế cô hồn tử sĩ, khắc ghi công lao và sự thương tiếc đối với binh sĩ, sưu dân đã bỏ mình trong công cuộc đào kênh... 
Du khách có dịp đến Thất Sơn - An Giang nhớ đến viếng thăm lăng mộ Thoại Ngọc Hầu, ngắm dòng kênh Vĩnh Tế xanh biếc hiền hòa.
Chuyên mục: ,

Khu lưu niệm Bác Tôn

Vị trí - Địa điểm:
Thuộc xã Mỹ Hòa Hưng.
Cấp bậc - xếp hạng:
Di tích lịch sử theo Quyết định của Bộ Văn Hoá-Thông tin.
- Cơ quan quản lý:
Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch
*  Giới thiệu chung:
Cù lao Ông Hổ nằm cách Trung tâm Thành phố Long Xuyên bởi một nhánh sông Hậu chảy qua. Bằng nhiều phương tiện và con đường thủy, bộ khác nhau, chúng ta có thể đến với Cù lao Ông Hổ, nơi đây chúng ta sẽ có dịp thăm lại ngôi nhà lưu niệm thời niên thiếu của Bác Tôn Đức Thắng và các di vật ngày xưa của Bác. Ngôi nhà được xây dựng vào năm 1887, do thân sinh của Bác là cụ Tôn Văn Đề xây dựng với lối kiến trúc hình chữ Quốc, nên sàn lót ván, mái lợp ngói ống, ngang 12 mét, dài 13 mét, rộng hơn 150m2
Vào năm 1984, Bộ Văn Hoá đã ra quyết định công nhận đây là một di tích lịch sử mang tầm cỡ Quốc gia. Để tưởng nhớ công lao to lớn của Bác, nhân dịp kỷ niệm sinh nhật lần thứ 110 của Bác, Nhân dân tỉnh An Giang đã tiến hành làm lễ khánh thành khu lưu niệm của Bác với nhiều công trình mới được xây dựng xung quanh ngôi nhà Bác như: Đền thờ Bác Tôn được xây dựng trong khuôn viên 1.600m2 với kiến trúc cổ lầu tam cấp đặc sắc, đối diện với đền thờ là nhà trưng bày về cuộc đời và sự nghiệp của Bác, nơi đây các hình ảnh, hiện vật, các tư liệu và phim hình sống động giúp chúng ta hiểu thêm về Bác, một tấm gương sáng của dân tộc ta.
Không chỉ có thể, đến với cù lao chúng ta có thể thưởng thức các loại trái cây, món ăn đặc sản và nghe đàn ca tài tử, làm quen với cuộc sống của người dân Nam Bộ, thăm các bè cá ven bờ cù lao… Nơi đây, quý khách có thể tận hưởng được hương vị cuộc sống của vùng sông nước Nam Bộ.
Theo saigonnet
Chuyên mục: ,

Khu di tích Tức Dụp

Vị trí - Địa điểm:
Thuộc huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang.
Cấp bậc - xếp hạng:
Di tích lịch sử theo Quyết định của Bộ Văn Hoá-Thông tin.
- Cơ quan quản lý:
Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch
*  Giới thiệu chung:
Tức Dụp là một ngọn đồi của dãy núi Cô Tô (Phụng Hoàng Sơn). Tuy là một ngọn đồi nhỏ với chiều cao khoảng 300m, nhưng có địa hình hiểm trở với nhiều tảng đá dựng cheo leo, tạo thành những lò ảng (hang trên núi) ăn luồng nhau như tổ ong. Nhờ đặc điểm ưu việt này, Tức Dụp còn được mệnh danh là ngọn đồi “2 triệu đô-la” là giá trị của bơm đạn mà Mỹ cương quyết ném xuống để san bằng ngọn đồi, nhưng chúng bất lực trước tinh thần kháng chiến dũng cảm và mưu trí của quân dân An Giang, Tức Dụp đã trở thành một căn cứ kháng chiến nổi tiếng trong thời kỳ chống Mỹ.
Tức Dụp - người Việt gọi là Tức Dụp - theo tiếng Khmer có nghĩa là nước đêm. Tức Dụp nằm trong dãy núi Cô Tô có độ cao 216m và chu vi khoảng 2.200m. Nhìn từ xa, núi Cô Tô và đồi Tức Dụp trông giống chim phượng hoàng nên còn gọi là Phụng Hoàng Sơn.
Chuyện kể rằng, ngày xưa thuở ban sơ của trời đất, các tiên nữ thường dừng chân trên đỉnh Cô Tô, dạo chơi, tắm giặt hay đùa nghịch. Một hôm các nàng bày trò ném đá xuống chân núi. Ðá rơi chồng chất lên nhau thành ngọn đồi con. Dòng suối tắm đổ xuống chảy qua lòng đụn đá rơi. Từ đó suối và đồi có mặt trong trời đất, bên chân núi Cô Tô của vùng Thất Sơn hùng vĩ.
Một ngày nọ, những người mở đất đến đây. Gặp mùa nắng hạn, khát cháy ruột gan, đêm nằm không ngủ được, bỗng nghe tiếng nước róc rách phát hiện ra giữa quả đồi khô hạn có dòng suối mát chảy qua. Tên gọi Tức Dụp (nước đêm) có từ đó và ngọn đồi trở thành chốn linh thiêng. Vào các ngày lễ, sư sãi và già làng mang lễ vật đến cúng thánh thần, trời đất rồi rước nước suối về phum sóc.
Hoà bình, đồi Tức Dụp từ một ngọn đồi trọc, không còn vết tích của sự sống do hậu quả của bom đạn chiến tranh, nay đã bắt đầu trở lại màu xanh cây lá và trở thành một di tích lịch sử được Bộ Văn hoá xếp hạng. Với phong cảnh hữu tình, nằm bên cạnh ngọn núi Cô Tô hùng vĩ, đồi Tức Dụp luôn tấp nập du khách đến tham quan trong những dịp lễ, Tết, … để xem những chiến tích xưa, được hít thở không khí trong lành, chiêm ngưỡng cảnh núi non chập chùng. Đến đây du khách có thể tham quan những địa danh như: hang C.6, hang Quân y, hang Thanh Niên, Hội trường Tỉnh uỷ,... Đồi Tức Dụp ngày nay xứng đáng là một khu tham quan, giải trí lý tưởng đúng như lời khen ngợi của những người đã từng một lần đến đây.
Chuyên mục: ,