Hiển thị các bài đăng có nhãn Phát triển bền vững. Hiển thị tất cả bài đăng

500 tỷ USD cho 1 năm hoãn chống biến đổi khí hậu




Các nghiên cứu mới công bố của Cơ quan Năng lượng quốc tế (IEA) cho biết cứ mỗi năm trì hoãn các nỗ lực toàn cầu chống biến đổi khí hậu, thế giới mất thêm 500 tỷ USD đầu tư cho năng lượng sạch.

Theo số liệu của các nghiên cứu này, để giảm 50% lượng khí thải CO2 vào năm 2050, thế giới cần đầu tư tới 316.000 tỷ USD, cao hơn 17% so với tổng đầu tư thông thường hiện nay.
Tổng lượng khí thải CO2 do đốt nhiên liệu hóa thạch năm 2005 là 27,1 tỷ tấn, nhưng nếu chính sách hiện hành không được thay đổi mạnh mẽ, lượng khí thải này sẽ tăng tới 42 tỷ tấn vào năm 2030.
Vận tải hiện chiếm 25% tổng năng lượng được sử dụng và lượng khí thải liên quan đến nguồn năng lượng này nhưng nếu không thay đổi chính sách hiện hành, lượng năng lượng được ngành vận tải sử dụng cũng như lượng khí thải CO2 có liên quan sẽ tăng 50% vào năm 2030 và 80% và năm 2050.
Khí thải do sản xuất điện chiếm 40% tổng lượng khí thải toàn cầu và sẽ tăng lên 58% vào năm 2030 nếu các biện pháp chính sách mới không được thực hiện trên toàn cầu. Năng lượng gió sẽ là nguồn năng lượng tái sinh giúp giảm khí thải tăng nhanh nhất thế giới với tốc độ đã tăng 24% hàng năm từ năm 1990 đến 2005.
Các nghiên cứu cho rằng nếu các kiến nghị về sử dụng hiệu quả năng lượng của IEA với các nền kinh tế phát triển G8 được thực hiện trên toàn cầu, mỗi năm thế giới có thể giảm được 8,2 tỷ tấn CO2 từ nay đến năm 2030. Mạng năng lượng thông minh có thể giảm 0,9-2,2 tỷ tấn CO2 vào năm 2050. Công nghiệp chiếm hơn 30% tổng năng lượng được sử dụng và 40% tổng lượng khí thải CO2 trên toàn cầu.
Trong thập kỷ mới đây, hiệu quả sử dụng năng lượng trong công nghiệp đã tăng lên khiến lượng khí thải CO2 giảm mạnh, nhưng tiến triển này đã bị vô hiệu hóa cùng với tăng sản xuất công nghiệp toàn cầu.
Nghiên cứu của IEA cảnh báo nếu thế giới không có hành động quyết liệt, xu hướng này sẽ tiếp tục với lượng khí thải trong công nghiệp tăng với nhịp độ cao hơn.
Vào năm 2030, khoảng 10% phế thải nông nghiệp và lâm nghiệp toàn cầu có thể cung cấp 50% nhu cầu nhiên liệu sinh học. Kịch bản này cần được thúc đẩy trong khu vực năng lượng để góp phần giữ nhiệt độ toàn cầu không quá 2 độ C so với nhiệt độ thời kỳ tiền công nghiệp./.

Chuyên mục: ,

Biến đổi khí hậu và nỗi lo bảo vệ di sản




Biến đổi khí hậu đang gây lo lắng cho rất nhiều nhà quản lý văn hóa khi các di sản thiên nhiên, di sản văn hóa có nguy cơ biến dạng, bị phá hủy.

Trong một cuộc điều tra của Trung tâm Di sản thế giới để đánh giá mức độ của biến đổi khí hậu, 72% ý kiến cho rằng, biến đổi khí hậu tác động đến di sản thiên nhiên và văn hóa. Khảo sát đối với các di sản thế giới cho thấy, có 19 di sản bị đe dọa do băng tuyết tan, 27 di sản bị ảnh hưởng do nước biển dâng, 24 di sản bị đe dọa do lượng mưa thay đổi, hạn hán, bão tố…
Ở Việt Nam, tuy chưa có thống kê chính thức, song hầu hết các di sản ven biển sẽ bị ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu, nước biển dâng. Theo PGS. TS. Vũ Văn Tuấn, Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường, đối với các di sản chưa xuất lộ, còn bị vùi trong lòng đất có thể bị biến dạng, hiện vật bị hư hại khi nhiệt độ, độ ẩm trong lòng đất thay đổi, hoặc ngập nước. Sự gia tăng mực nước biển và hoạt động của bão vùng ven biển gây nguy hiểm, xói mòn cho các di sản ven biển, ven sông như vùng văn hóa Sa Huỳnh, Đa Bút, Quỳnh Văn…
Các di sản đã xuất lộ còn hứng chịu những tác động trực tiếp từ môi trường không khí, mưa, tác nhân hóa học, hoạt động của rêu, nấm mốc… như khu Hoàng thành Thăng Long hiện nay… "Hiện nay với điều kiện khí hậu thay đổi, trên các tường tháp của khu Thánh địa Mỹ Sơn đã phát triển nhiều loài địa y trắng ảnh hưởng nghiêm trọng đến bề mặt trang trí, chạm khắc. Mặt khác, do độ ẩm tăng cao nên các loài ký sinh như mối đất có điều kiện phát triển mạnh, rễ cây ăn sâu vào tường gạch di tích cũng sẽ ảnh hưởng đến sự bền vững của công trình", PGS. Tuấn dẫn chứng.
Khu di tích khảo cổ học Óc Eo thuộc vùng núi Sập, Ba Thê, Thoại Sơn, An Giang là di sản văn hóa của Vương quốc Phù Nam từ cách đây hơn 13 thế kỷ, được xây dựng bằng gỗ, gạch. Từ thế kỷ thứ 7, Phù Nam cũng đã bị nhấn chìm bởi nước biển lấn sâu vào đất liền cũng là một cảnh báo khi An Giang cũng đang có nguy cơ bị nước biển dâng và bị xâm nhập mặn nghiêm trọng.
Để các di sản thích ứng được với biến đổi  khí hậu, theo PGS. Vũ Văn Tuấn, cần tạo ra các vùng bảo vệ mới, mở rộng các vùng bảo vệ di sản hiện có, tạo ra bản sao của các vùng cần bảo vệ hiện có, giảm bớt áp lực môi trường trong khu vực, loại bỏ các loại sinh vật ngoại lai xâm nhập khu vực cần bảo vệ...
"Đối với các di sản văn hóa, mặc dù chúng ta có thể di chuyển chúng ra khỏi các vùng bị đe dọa như thế giới đã từng di chuyển tượng đài, vật thể kiến trúc bên bờ sông Nile, sông Dương Tử khi xây dựng đập nước... Tuy nhiên, khi bị di chyển, ý nghĩa của di sản giảm đi đáng kể nên cần cố gắng thực hiện các biện pháp tại chỗ", PGS. Vũ Văn Tuấn khuyến cáo.
Việc cần làm hiện nay là chúng ta cần sớm xác định hiện trạng di sản đồng thời đề ra khả năng giải quyết đối với từng loại di sản cho phù hợp.
Chuyên mục: ,

Hà Nội chi hơn 3 tỷ đồng để quy hoạch môi trường




Ngày 9/8, Ủy ban Nhân dân Thành phố Hà Nội quyết định dành trên 3,3 tỷ đồng để lập dự án Quy hoạch bảo vệ môi trường thành phố Hà Nội đến năm 2020, định hướng đến năm 2030.

Mục tiêu của Dự án nhằm ngăn ngừa và giảm thiểu suy thoái tài nguyên thiên nhiên, ô nhiễm môi trường, từng bước cải thiện chất lượng môi trường, nâng cao hiệu quả khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên, năng lực quản lý môi trường của thành phố Hà Nội, đảm bảo phát triển kinh tế-xã hội thành phố bền vững.
Dự án này phải phù hợp với Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội; Chiến lược Quốc gia về bảo vệ môi trường đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020; Quy hoạch tổng thể mạng lưới quan trắc tài nguyên và môi trường quốc gia đến năm 2010; Chiến lược Quốc gia về tài nguyên nước đến năm 2020; Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội đến năm 2030, tầm nhìn 2050 và Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội thành phố Hà Nội đến năm 2020, tầm nhìn 2030; Quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất của thành phố Hà Nội và các quy hoạch khác.
Sở Tài nguyên Môi trường được Ủy ban Nhân dân thành phố giao làm chủ đầu tư. Trách nhiệm của chủ đầu tư phải nghiên cứu, kế thừa, sử dụng cao nhất kết quả các dự án đã và đang thực hiện nhằm đảm bảo tính thống nhất, tính hệ thống cũng như chất lượng quy hoạch; đẩy nhanh tiến độ hoàn thành; tiết kiệm vốn đầu tư; không thất thoát lãng phí vốn đầu tư.
Đặc biệt phải lựa chọn nhà thầu đúng quy định của pháp luật để thực hiện các Dự án lập quy hoạch bảo vệ môi trường gồm Quy hoạch hệ thống công trình thu gom, xử lý nước thải tập trung của các đô thị, đặc biệt là đô thị trung tâm; các công trình thu gom, vận chuyển, xử lý, tái chế chất thải rắn; Quy hoạch hệ thống thoát nước mưa và chống úng ngập đặc biệt là đối với đô thị trung tâm; hệ thống công trình cấp nước đô thị, nông thôn và cấp nước sản xuất; hệ thống bảo vệ môi trường không khí như bụi khí, phóng xạ…; hệ thống bảo vệ môi trường đất; hệ thống mai táng; hệ thống công viên, khu vui chơi, giải trí, hệ thống cây xanh và mặt nước đô thị.

Thời gian thực hiện Dự án trong hai năm 2011-2012./.
Chuyên mục: ,

Chỉ khu bảo tồn chưa đủ để cứu đa dạng sinh học




Kể từ năm 1872, khi Vườn Quốc gia Yellowstone (Hoa Kỳ) được thành lập, hệ thống các khu bảo tồn đã nhanh chóng hình thành và phát triển rộng khắp toàn cầu. Tuy nhiên, một nghiên cứu mới đây đăng trên tờ Marine Ecology Progress Series đã chỉ ra rằng chỉ riêng các khu bảo tồn thì không thể đủ sức ngăn chặn sự mất mát đa dạng sinh học. Ngay cả với một số lượng khu bảo tồn lớn thì chúng ta vẫn cứ rơi vào cuộc đại tuyệt chủng với tỷ lệ tuyệt chủng gấp 100 lần, thậm chí là 10.000 lần so với tỷ lệ trung bình của 500 triệu năm qua.

Tính đến nay, thế giới đã ghi nhận sự ra đời của hơn 100.000 khu bảo tồn dưới hình thức vườn quốc gia, khu trú ẩn động vật hoang dã, khu dự trữ săn bắn, khu bảo tồn biển, khu bảo tồn động vật hoang dã…, chiếm khoảng 19 triệu km2 mà đa phần là trên đất liền, dù các khu bảo tồn biển cũng phát triển khá mạnh. Có rất nhiều lý do đằng sau việc thành lập các khu bảo tồn, song quan trọng nhất chính là bảo tồn các loài động, thực vật hoang dã cho các thế hệ tương lai.
“Có thể nói, mạng lưới khu bảo tồn trên thế giới là một thành tựu đáng kể mà con người đã đạt được và tốc độ đạt được thành tựu ấy cũng hết sức ấn tượng. Tuy nhiên, tốc độ gia tăng liên tiếp của mất đa dạng sinh học đã đặt ra yêu cầu phải đánh giá lại sự phụ thuộc nặng nề của chúng ta vào chiến lược này” – Tiến sĩ Peter F. Sale, Phó Giám đốc Viện Nước, Môi trường và Sức khỏe (có trụ sở tại Canada) thuộc trường Đại học Liên Hợp quốc, đồng tác giả nghiên cứu, cho hay.
Mặc dù vai trò của hệ thống khu bảo tồn thực sự quan trọng, song loài người chúng ta vẫn cần phải giải quyết những vấn đề cơ bản về hiện tượng gia tăng dân số và tình trạng tiêu thụ quá mức nếu muốn có cơ hội duy trì sự sống trên Trái đất và tạo dựng một hành tinh có thể tồn tại cho con cái chúng ta.
Bấp bênh từ phía khu bảo tồn
Theo các tác giả thì việc chỉ tập trung vào các khu bảo tồn để duy trì đa dạng sinh học bộc lộ nhiều thiếu sót, nhất là khi chúng ta còn cách xa mục tiêu tối thiểu – bảo tồn 30% môi trường sống trên cạn và dưới biển – nhằm giữ gìn được các đặc tính đa dạng sinh học toàn cầu. Hiện tại, chỉ có 5,8% diện tích đất liền và 0,08% diện tích đại dương nằm ở dạng khu bảo tồn.
Đáng lưu ý là không phải bất kỳ khu bảo tồn nào cũng được thành lập vì động cơ tốt đẹp. Nhiều nơi vẫn cho phép các hoạt động thiếu bền vững diễn ra trong phạm vi khu bảo tồn. Thêm nữa, phần lớn các khu bảo tồn trên cạn (60%) có quy mô quá nhỏ – dưới 1 km2 – để có thể cứu trợ các loài di cư hoặc loài lớn. Và hầu hết các khu bảo tồn đều chưa liên kết tốt với nhau để hỗ trợ sự di chuyển của những quần thể động, thực vật trong bối cảnh biến đổi khí hậu đang ngày một trầm trọng hơn.
Đặc biệt, hệ thống khu bảo tồn cũng không thể hóa giải được mọi đe dọa đối với các loài. Tuy tạo ra vùng đệm, bảo vệ các loài khỏi tình trạng mất nơi cư trú và khai thác quá mức, nhưng khu bảo tồn chưa thành công trong việc cứu loài ra khỏi những tác động khác như biến đổi khí hậu, ô nhiễm, loài xâm lấn…
Sau cùng là hệ lụy xuất phát từ khoản đầu tư tài chính quá ít ỏi mà các chính phủ dành cho công tác quản lý của các khu bảo tồn. Nghiên cứu cho biết các khu bảo tồn trên thế giới hàng năm đều thiếu tới 18 tỷ USD: nhiều gấp 3 lần con số chi dùng cho công tác quản lý khu bảo tồn (6 tỷ USD). Hoạt động quản lý lỏng lẻo đã vô tình mở ra cánh cửa cho một loạt tác động của con người, bao gồm săn trộm, khai thác gỗ trái phép, phá hủy môi trường sống, đánh bắt cá trái phép… Thiếu vốn, quản lý lỏng lẻo và tham nhũng đồng nghĩa với việc nhiều khu bảo tồn sẽ chỉ là “những khu bảo tồn trên giấy”.
“Ta đang đặt tất cả số trứng trong một cái rổ tiềm ẩn nhiều rủi ro, và nguy hiểm hơn là dưới đáy rổ đã bị thủng một lỗ” – Camilo Mora thuộc Đại học Hawaii tại Manoa, đồng tác giả nghiên cứu, khẳng định.
Tương lai của nhiều khu bảo tồn trên Trái đất cũng hết sức bấp bênh. Khi dân số tăng lên – chạm mốc 7 tỷ năm 2011 và dự đoán đạt 9 tỷ vào năm 2035, nhu cầu đối với các nguồn tài nguyên tăng theo, nhiều chính quyền có thể sẽ nhắm tới nguồn tài nguyên trong các khu bảo tồn. Khuynh hướng ấy đã xuất hiện ở nhiều quốc gia.
Đơn cử, Tanzania đang thu hẹp Khu dự trữ săn bắn Selous để khai thác urani. Campuchia hiện đang giao 50.000ha đất thuộc Vườn Quốc gia Viracehy cho các đồn điền cao su và các dự án phát triển khác, cơ bản đã thu hẹp khu bảo tồn này tới 16%. Những con đường gây tranh cãi có thể đưa đến nhiều tác động tiêu cực đang được lên kế hoạch triển khai trong các khu bảo tồn ở Serengeti, Lào, Việt Nam và Sumatra.
Suốt nhiều thập kỷ, Hoa Kỳ cũng đã tranh luận về sự xuống cấp của Khu trú ẩn Quốc gia cho Động vật hoang dã vùng Bắc cực (ANWR) khi cho phép hoạt động khoan dầu. Đến nay, khu trú ẩn ANWR vẫn an toàn, nhưng điều đó còn có thể tiếp tục tái diễn. Một khi chi phí lương thực tăng, nhiều khả năng xung đột giữa đất nông nghiệp và đất trong các khu bảo tồn cũng tăng lên. Không thể hy vọng rằng những khu bảo tồn hiện đang tồn tại tương lai sẽ không thay đổi.
Đâu mới là mấu chốt?
Vấn đề dân số và tiêu thụ chính là những mấu chốt thực sự phải được giải quyết nhằm ngăn chặn sự tuyệt chủng hàng loạt. Ngày nay, con người đã tác động tới hơn 80% diện tích đất trên thế giới và 100% các đại dương. Khoảng 40% bề mặt Trái đất bị “ảnh hưởng mạnh” bởi sức tiêu thụ của chúng ta.
Hiện tượng bùng nổ dân số trong thế kỷ qua dẫn tới nhu cầu ngày càng tăng đối với các nguồn tài nguyên sinh học và một sự sụt giảm nhanh chóng các mức độ đa dạng sinh học. Theo ước tính thì chỉ đến năm 1999 đã cần có khoảng 1,2 Trái đất mới mong đáp ứng được nhu cầu đa dạng của 5,9 tỷ người đang sống trên hành tinh. Và việc “ăn lạm” vào các nguồn tài nguyên là điều dễ hiểu vì thời gian khai thác tài nguyên nhanh hơn khoảng thời gian chúng được phục hồi hoặc thay thế, trong khi chất thải lại được tích lũy (chẳng hạn như CO2 trong bầu khí quyển).
Dựa trên lý lẽ đó, các tác giả đi tới kết luận rằng nếu xã hội tiếp tục “bóc lột” triệt để nơi chúng ta đang sống thì đến năm 2050 sẽ cần 27 hành tinh như Trái đất mới có thể duy trì được mức tiêu thụ ấy.
Không đưa ra các giải pháp cụ thể, nhóm nghiên cứu chỉ đề xuất rằng xã hội phải ưu tiên cho “các giải pháp thay thế hướng tới nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ sinh thái của con người, trong khi vẫn đảm bảo sức khỏe cho con người”. Đồng thời, chúng ta cần có “những nỗ lực phối hợp nhằm giảm thiểu mức gia tăng dân số và lượng tiêu thụ, đồng thời tăng sức tải sinh học của Trái đất thông qua chuyển giao công nghệ nhằm nâng cao sản lượng nông nghiệp và nuôi trồng thủy, hải sản”.
Trên thực tế, bùng nổ dân số không chỉ là hiểm họa đối với các loài động thực vật hoang dã mà còn là hiểm họa với chính bản thân con người. Tăng dân số có thể gây ra thiếu lương thực, thiếu nước trầm trọng, điều kiện giáo dục, tình trạng cạnh tranh sinh kế khắc nghiệt và truyền nhiễm bệnh tật. Chất lượng cuộc sống toàn cầu sẽ bị đe dọa nặng nề khi dân cư ngày một đông hơn. Nếu không có những thay đổi trên diện rộng thì đa dạng sinh học sẽ mãi chỉ là một nạn nhân của tiến trình này.
“Chúng ta đang nhắc tới câu chuyện nửa thế kỷ tới, loài người có thể mất đi 50% trên tổng số loài, nhanh hơn bất cứ sự kiện tuyệt chủng lớn nào từng xảy ra trong lịch sử. Và chắc chắn những ai nghĩ rằng ta có thể vượt qua cuộc đại tuyệt chủng mà vẫn duy trì được tính bền vững đều chỉ đang cố gắng tự huyễn hoặc mình” – Tiến sĩ Sale kết luận.
Phượng Trần
Chuyên mục: ,

Vùng lan quí Sa Pa nguy cơ xóa xổ




Sa Pa có rất nhiều loài lan, chúng mọc hoang dại trong rừng. Hiện chưa thống kê được Sa Pa có bao nhiều loài lan, nhưng các nhà khoa học đã tìm thấy nhiều giống lan quí trong những cánh rừng ở Sa Pa.Ngoài việc khai thác lan hoang dại, nhiều gia đình đã trồng lan, xây dựng những vườn lan để kinh doanh. Chính việc khai thác vô tội vạ đã khiến cho vùng lan quí Sa Pa đang đứng trước nguy cơ bị xóa sổ…            

Vào những ngày chợ phiên, quanh khu vực nhà thờ thị trấn Sa Pa, hay dọc con đường từ Sa Pa xuống tận Trung Chải, Tòng Sành người dân hai bên đường bày bán những giò phong lan hoang dại với đủ màu sắc mới được khai thác trên những cánh rừng đại ngàn cho khách du lịch. Không chỉ người dân Sa Pa, bà con các dân tộc sống cạnh Vườn Quốc gia Hoàng Liên ở hai huyện Tam Đường, Tân Uyên thuộc tỉnh Lai Châu cũng khai thác hoa lan để bán. Giá mỗi giò lan chỉ từ 10.000- 25.000đ, thậm chí có giò chỉ 5.000đ, đó là những giò lan nhỏ, hoa không đẹp, màu sắc kém rực rỡ.
Vợ chồng Giàng A Lềnh, xã Bản Khoang đeo một lù cở (gùi) lan khai thác tuần qua trên rừng mang xuống chợ bán. Lềnh nói tiếng Kinh khá sõi, anh bảo tôi: Cây hoa này à? Ngày trước thì có nhiều đấy, rừng nào cũng có. Bây giờ ít rồi, vì mọi người ở thôn bản mình ai cũng lấy đem bán nên không còn nhiều đâu. Phải đi xa vào tận trong rừng sâu, trèo lên cành cao mới lấy được đấy. Khó lắm… Hỏi ra mới biết, bây giờ đang vào mùa giáp hạt, vợ chồng Lềnh rủ nhau lên rừng gần cả tuần nay mới kiếm được lù cở lan này mang xuống chợ bán lấy tiền đong gạo. Tôi đếm có khoảng hơn hai chục giò, toàn giò nhỏ, chưa giò nào có nụ, nếu bán hết số lan kia chắc cũng chỉ được hai trăm ngàn đồng. Xem ra cũng khó bán lắm, nhiều người đến hỏi chơi chơi vài câu rồi đi.
Hôm nay thứ bảy, chưa đông khách du lịch nên cũng chỉ có năm, sáu người bán hoa lan, nghe mấy bà bán hàng ở đây thì chủ nhật mới đông người bán. Bà con từ trên núi xuống, người gùi kẻ vác tha hồ mà chọn. Trước đây có nhiều, bây giờ cũng ít rồi, nhiều hôm gặp khách ở Hà Nội, Hải Phòng… mua hàng bao tải, họ chất đầy thùng xe ô tô. Không ít khách hàng là người Trung Quốc, họ chọn kỹ lắm… Phong lan chẳng có giá bằng địa lan, nhiều chậu lan ở đây giá từ chục triệu đến vài chục triệu. Chứ mấy giò lan kia bán ra chỉ đủ ăn vài bát phở. Đối với bà con mấy chục ngàn cũng là quí lắm rồi…
Theo báo cáo của VQG Hoàng Liên, trong khu vực vườn quản lý có 250 loài phong lan phân bố tự nhiên trong rừng, nhiều loài lan quý hiếm như­: Hồng thảo Sa Pa, Hồng huyền, Tân thanh củ bóng, Hài kép, Hài đốm, Hồng hoàng, Kim điệp, Hoàng thảo u lồi… Một số loài lan quí hiếm sống ở độ cao từ 1.500-2.000m, đó là các loài Lan hài, Lan môi dày, Gấm đất…Một số loài sống trên độ cao trên 2.000m gồm: Thanh đạm nhăn, Hoàng thảo trúc bạch và một số loài lan loọng… Một số loài lan được người dân mua về trồng kinh doanh, nhiều nhất vẫn là địa lan (loài lan mọc trên đất), gồm: Lan sứa Sa Pa, Gấm đất Nhật, Kiếm hồng hoàng Sa Pa, Hoàng thảo long nhãn (Kiếm cò râu, Kiếm cò đỏ), Lan sậy và các giống lan hài…
Tất cả những loài lan có mặt trên các cánh rừng Sa Pa đều được người dân khai thác bán cho khách du lịch, không ít loài lan đặc hữu của VQG Hoàng Liên, có tên trong Sách đỏ Việt Nam và thế giới đang được các du khách Trung Quốc săn lùng ráo riết. Tình trạng khai thác lan rừng hoang dại một cách vô tội vạ đã khiến nhiều loài lan quí hiếm trước nguy cơ bị xóa sổ.
Chuyên mục: ,

Vườn chim Năm Căn đang bị xâm hại




Vườn chim Năm Căn, tỉnh Cà Mau hình thành cách đây 20 năm, ban đầu chỉ có vài trăm con chim, càng về sau đàn chim tụ tập đến càng đông trên phần đất nuôi trồng thuỷ sản kết hợp trồng hỗn hợp rừng đước, mắm diện tích 30 ha của gia đình ông Nguyễn Hoàng Na (khóm 9, thị trấn Năm Căn, huyện Năm Căn).


Vườn chim Năm Căn hiện có khoảng 20 loài chim với 120.000 con; trong đó có một số loài chim quý hiếm như: Bồ nông, Nhan sen, Chàng bè, Cò quắm, Diệc, Vạc, Điên điển, Bìm bịp, Còng cọc…
Đây là vườn chim lớn nhất tỉnh vì phong phú đa dạng các loài chim và đông về số lượng. Tuy nhiên, mặc dù gia đình ông Na đã cố gắng đầu tư và bảo tồn tài sản quốc gia, nhưng hiệu quả mang lại chưa cao vì chưa có biện pháp ngăn chặn nạn săn bắn chim vô tội vạ của các hộ dân sống quanh vùng.
Ông Nguyễn Hoàng Na trăn trở: Bình quân mỗi ngày có đến vài chục tay săn bắn chim trang bị súng, lưới bẫy chim, gác chim, dùng lưỡi câu mớm mồi để bắt chim vào thời điểm đàn chim kéo nhau đi tìm thức ăn ở các vuông tôm, ven những cánh rừng và bờ sông. Chim săn bắn được hầu hết mang đi bán ở các chợ, quán nhậu, thu nhập đến vài trăm nghìn đồng/ngày là động cơ và nguyên nhân làm gia tăng số lượng người săn bắn chim. Một số loài chim quý dần bị mai một và có nguy cơ bị xóa sổ ở vườn chim Năm Căn.
Trước thực trạng trên, ông Na đã chuyển đơn đến các cơ quan chức năng của tỉnh Cà Mau đề nghị quan tâm đầu tư kinh phí và hỗ trợ kỹ thuật để quản lý bảo vệ rừng, bảo tồn các loài chim phục vụ du khách đến tham quan điểm du lịch sinh thái hấp dẫn này.
Chuyên mục: ,

Khởi động Dự án Khu bảo tồn thiên nhiên Phú Mỹ



Ngày 14.7 tại TP.Rạch Giá, Hội đồng KHCN tỉnh Kiên Giang đã họp thông qua thuyết minh đề cương và nghiệm thu đề cương Dự án (DA) “Thành lập Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Phú Mỹ” DA do TS Dương Văn Ni - GĐ Trung tâm Thực nghiệm Hòa An (ĐH Cần Thơ) thực hiện.


Khu bảo tồn có tổng diện tích 3.270ha, được hình thành trên cơ sở vùng DA “Khai thác bền vững đồng cỏ bàng kết hợp bảo tồn nghề thủ công xã Phú Mỹ” rộng 2.800ha, vùng bảo tồn Hàng Bùn 120ha (phường Đông Hồ, thị xã Hà Tiên), vùng bảo tồn Lung Lớn 350ha (xã Kiên Bình, huyện Kiên Lương) được quy hoạch, phát triển bảo tồn theo hướng hài hòa giữa hai mục tiêu: Bảo tồn loài - sinh cảnh và an sinh xã hội cho người dân  vùng DA.
Như vậy, sau 14 tháng kể từ ngày Phó Chủ tịch UBND tỉnh Trần Thanh Nam cho ý kiến chấp thuận thành lập, DA mới chính thức khởi động. Trước đó, Báo Lao Động số ra ngày 7.3 thông tin: “Khu bảo tồn thiên nhiên Phú Mỹ: Vẫn nằm im sau 10 tháng phê duyệt” - phản ánh tình trạng “bất động” của ngành chức năng trong việc thực hiện chỉ đạo của UBND tỉnh Kiên Giang.   
Lục Tùng
Chuyên mục: ,

Du lịch Việt Nam hướng tới phát triển bền vững

Hướng tới mục tiêu phát triển một ngành du lịch bền vững mang thương hiệu Việt Nam, Tổng cục Du lịch Việt Nam đang hoàn thiện đề án “Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020 và Tầm nhìn 2030;” đề án “Phát triển du lịch cộng đồng kết hợp xóa đói giảm nghèo và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn đến năm 2020.”


Ngành Du lịch cũng đang triển khai xây dựng hai bộ tiêu chuẩn gồm “Tiêu chuẩn tàu thủy lưu trú du lịch” và “Tiêu chuẩn Việt Nam - Du lịch và dịch vụ có liên quan - Thuật ngữ và định nghĩa.”

Tổng cục Du lịch đã tổ chức khảo sát một số khách sạn về khả năng áp dụng nhãn Bông Sen trong hệ thống khách sạn Việt Nam; đang hoàn thiện tiêu chí nhãn sinh thái Bông Sen xanh; nghiên cứu, xây dựng qui hoạch, định hướng phát triển cơ sở lưu trú du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030.

Thống kê từ cơ quan quản lý nhà nước về du lịch cho thấy đến hết tháng 6/2011, cả nước có khoảng 12.000 cơ sở lưu trú du lịch với 235.000 buồng; trong đó, số lượng khách sạn được xếp hạng từ 3-5 sao chiếm tỷ lệ khoảng 2%, số buồng chiếm khoảng 19%.

Cụ thể, trên địa bàn cả nước có 48 khách sạn 5 sao với 12.056 buồng; 110 khách sạn 4 sao với 13.943 buồng; 235 khách sạn 3 sao với 16.353 buồng.

Trong sáu tháng đầu năm 2011, ngành du lịch đã thẩm định 181 hồ sơ cấp, đổi, cấp lại, rút giấy phép kinh doanh lữ hành quốc tế cho các doanh nghiệp lữ hành.

Tính đến nay (14/6/2011), cả nước có 960 doanh nghiệp lữ hành quốc tế, trong đó có 39 doanh nghiệp nhà nước, 317 doanh nghiệp cổ phần, 14 doanh nghiệp liên doanh, 586 công ty trách nhiệm hữu hạn, 4 doanh nghiệp tư nhân.

Ngành du lịch chỉ đạo các đơn vị doanh nghiệp lữ hành, khách sạn đảm bảo chất lượng, ổn định giá cả dịch vụ phục vụ khách du lịch, nhất là trong các dịp cao điểm, lễ, tết…

Ngành tổ chức kiểm tra, phối hợp cùng các cơ quan hữu quan lựa chọn những giải pháp chấn chỉnh tình trạng mất an toàn trong hoạt động du lịch, hoạt động kinh doanh lữ hành, hoạt động đón trả khách… tại những địa bàn du lịch trọng điểm./.
Chuyên mục: ,

Hà Nội: Chú trọng phát triển du lịch xanh

Tại buổi tổng kết công tác du lịch Hà Nội sáu tháng đầu năm và phương hướng hoạt động sáu tháng cuối năm, ông Mai Tiến Dũng, Phó Giám đốc Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch Hà Nội nhấn mạnh, thành phố khuyến khích phát triển các dự án du lịch, dịch vụ cũng như vận chuyển xanh, bền vững và thân thiện với môi trường.


Những sản phẩm du lịch xanh đặc sắc


Phó Giám đốc Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch Hà Nội Trương Minh Tiến cho biết, Ba Vì hiện nay là một trong hai trọng điểm phát triển du lịch xanh ở Hà Nội. Có tiềm năng phong phú về du lịch tâm linh, du lịch văn hoá, nghỉ dưỡng..., nhưng du lịch sinh thái là thế mạnh rõ rệt nhất của Ba Vì, là nơi có khả năng thu hút khách du lịch sinh thái lớn nhất, với nhiều nguồn gien phong phú được bảo tồn, với những chuyên đề bảo tồn độc đáo như xương rồng, tre, trúc, cau... Vườn quốc gia Ba Vì có một đội ngũ kỹ sư lâm nghiệp yêu nghề, am hiểu sâu và sẵn sàng giải thích cho du khách biết về những điều thú vị trong chuyên môn của mình. Ông Tiến cho biết: “Bản thân chúng tôi khi đến đó, được nghe giới thiệu cũng thấy thú vị. Sở đã xác định Vườn quốc gia Ba Vì là cốt lõi để phát triển du lịch sinh thái ở Ba Vì”.

Bên cạnh đó, các đơn vị hoạt động du lịch chung quanh khu vực Ba Vì lại có tính chất bổ trợ rất tốt, chẳng hạn như phục vụ nhu cầu ăn nghỉ, vui chơi cuối tuần của người dân Hà Nội. Ông Tiến cho rằng: “Hiện, các sản phẩm chưa phong phú, mới chỉ là bước đầu, cần phải nâng cao hơn nữa về giới thiệu sinh thái, phục vụ ăn nghỉ, vui chơi giải trí cho khách, quản lý, phục vụ du khách”.

Bên cạnh đó, một trong những tour du lịch được thử nghiệm thành công nhất là làng cổ Đường Lâm (Hà Nội). Ông Lưu Đức Kế, Giám đốc Công ty lữ hành Hanoitourist cho hay, Hanoitourist đã cùng với một số đơn vị kinh doanh lữ hành có tiếng khác của Hà Nội xây dựng thí điểm dự án du lịch làng cổ Đường Lâm, với chín ngôi nhà cổ được lựa chọn để sửa sang, nâng cấp phục vụ du lịch.

Các nhân viên của dự án đã cùng với chủ nhà chọn từng viên gạch, viên ngói, lựa từng loại vật liệu, chăm chút từng chi tiết của căn nhà… những việc trước đây họ chưa quen làm. Không chỉ nhằm giữ nguyên vẹn dáng vẻ cổ kính, các nhân viên còn giúp chỉnh trang, nâng cấp sao cho căn nhà đó tiện nghi hơn, phục vụ du khách tốt hơn và khiến cho sinh hoạt hàng ngày của chính chủ nhân của những căn nhà đó cũng thoải mái hơn. Các chủ nhà cũng được tham gia một lớp huấn luyện về vệ sinh an toàn thực phẩm, cách phục vụ du khách, cách làm hướng dẫn viên du lịch ngay trong ngôi nhà của mình, rồi về trang phục, ẩm thực, kinh doanh hàng lưu niệm và đặc sản địa phương…

Ông Lưu Đức Kế cho biết, đến nay, dự án đã được đông đảo du khách ủng hộ, còn người dân thì rất hứng thú vì có thêm sinh kế ổn định lâu dài. Đây chỉ là một trong rất nhiều dự án du lịch xanh đã hoạt động thành công ở Hà Nội.

Những dự án sắp tới


Theo ông Mai Tiến Dũng, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, ngành du lịch Hà Nội đang triển khai một số sản phẩm “du lịch xanh” mới như city tour (quận Hoàn Kiếm), homestay, du lịch sinh thái (Sóc Sơn), du lịch tâm linh, du lịch ăn nghỉ tại nhà dân (huyện Ba Vì)… Các tour này đều thu hút sự chú ý của khách nước ngoài, đặc biệt là khách châu Âu. Sở cũng đang tính đến việc sẽ mở thêm một điểm du lịch homestay nữa tại bản của người Dao, thuộc huyện Ba Vì với chương trình ăn nghỉ tại nhà sàn của người Dao, tắm thuốc bắc. Hiện nay, dự án đang trong giai đoạn chuẩn bị.

Ông Dũng cũng cho hay, Hà Nội đang khuyến khích các sản phẩm du lịch khai thác yếu tố bền vững, thân thiện với môi trường, cả tự nhiên và nhân văn. Hiện nay, sau thành công của tour du lịch xe điện quanh Hồ Gươm và khu phố cổ, sắp tới, dự kiến vào đầu tháng 9, một tour du lịch mới bằng xe điện quanh Hồ Tây, chạy theo khoảng 19km đường dạo ven hồ sẽ được đưa vào khai thác.

Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch cũng khuyến khích các doanh nghiệp du lịch sử dụng xe chở khách thân thiện với môi trường, các doanh nghiệp lưu trú sử dụng năng lượng sạch, tiết kiệm và giảm lượng hoá chất trong phục vụ...

Ông Mai Tiến Dũng khẳng định, những dự án du lịch xanh này đi vào hoạt động, sẽ đem lại lợi ích kép cho Hà Nội. Đó là không chỉ phát triển kinh tế lâu dài, thu lợi nhuận bền vững mà còn tạo nên một hình ảnh Hà Nội thật đẹp trong mắt du khách, điều mà du lịch Hà Nội đang rất cần hiện nay.
Chuyên mục: ,

Bình Dương: Hàng vạn chim yến đổ về KDL Lạc cảnh Đại Nam văn hiến




Núi nhân tạo Ngũ Hành Sơn - nằm trong Khu du lịch Lạc Cảnh Đại Nam văn hiến, tỉnh Bình Dương đang thu hút hàng vạn con chim yến về trú ngụ, làm tổ.


Năm ngọn núi nhân tạo đầu tiên ở miền Đông Nam Bộ cũng như cả nước này được xây bằng ximăng cốt thép có chiều cao 63m. Qua thời gian và mưa nắng, cả năm ngọn núi đã mọc rêu phong trông không khác gì núi thật khiến chim yến kéo về ngày càng đông đúc.
Du khách đến Khu du lịch Lạc Cảnh Đại Nam văn hiến đều ấn tượng trước núi Ngũ Hành Sơn với hàng vạn chim yến bay lượn kín bầu trời. Trong vách núi, tiếng chim yến làm tổ kêu râm ran không dứt.
Chim yến kéo về Đại Nam làm tổ là dấu hiệu đất lành chim đậu, không những tạo nên một không gian thiên nhiên đẹp mà còn mang lại một nguồn thu lớn về yến sào có giá trị kinh tế cao.
Ông Huỳnh Uy Dũng, chủ Khu du lịch Đại Nam tâm sự: “Tôi xây năm ngọn núi cao phía sau đền Đại Nam là công trình nhằm tạo thế “tựa sơn” cho đền thờ Đại Nam và cả khu du lịch này. Thật kỳ lạ, từ ngày xây đền thờ bách gia trăm họ vào năm 2006, bỗng nhiên trên bầu trời từng đàn chim yến kéo nhau về. Trên các vách núi cũng xuất hiện những chiếc kén màu trắng giống như chiếc thìa ăn cơm dính trên vách núi."
Yến về làm tổ nơi đây giống như một món quà kỳ diệu. Theo ông Nguyễn Xuân Thới, cán bộ Quản lý Đền và núi nhân tạo Ngũ Hành Sơn, hiện mỗi tháng nơi đây thu hoạch được 30-35kg tổ yến. Sang năm tới có khả năng thu hoạch được 40-50 kg/tháng.
Mỗi kg yến sào hiện có giá từ 50-60 triệu đồng. Tổ yến thu được bao nhiêu bán sạch bấy nhiêu, chủ yếu tiêu thụ ở thị trường trong nước.
Đứng trước một cơ hội phát triển kinh tế đầy tiềm năng, Đại Nam đang tạo dựng một hệ thống nuôi yến hiện đại với nhiều khuôn viên tầng hầm trong lòng đất rộng hàng vạn mét vuông, nuôi yến bao quanh hồ, các công trình núi ở biển nhân tạo và trên cả các tường thành để mở rộng chỗ trú ngụ, làm tổ cho chim yến, đồng thời thiết kế thêm một số ô cửa để giảm bớt ánh sáng (chim yến thích không gian tối), lắp đặt hệ thống loa phát tiếng chim kêu để dẫn dụ chim yến vào./.
Dương Chí Tưởng
Chuyên mục: ,

Lăng Cô đẹp mà “chưa đẹp”: Nỗi buồn rác!




Lễ hội mang chủ đề "Lăng Cô - Vịnh đẹp thế giới" được tổ chức vào các ngày 9 - 10/7 tại thị trấn Lăng Cô (Phú Lộc – TT. Huế).


Lễ hội năm nay gắn với việc đánh giá kết quả 2 năm vịnh Lăng Cô được công nhận là một trong những “Vịnh biển đẹp nhất hành tinh”. Theo ngành chức năng, lễ hội là dịp tôn vinh các giá trị văn hoá, danh lam thắng cảnh, môi trường, sinh thái… Tuy nhiên, trên QL1A, “dẫn” đến Lăng Cô, du khách chứng kiến những bãi rác lưu niên quá “hoành tráng”, ở khu vực cầu Thừa Lưu (xã Lộc Tiến - Phú Lộc) nước chảy đen sệt ra đường, gây hôi thối, ô nhiễm môi trường. Vậy, nếu những bãi rác nói trên thu dọn trước khi xảy ra lễ hội, thì Lăng Cô sẽ đẹp hơn trong lòng du khách.
Khánh Loan
Chuyên mục: ,

Siết quy chế buôn bán động vật có thể tuyệt chủng




Hơn 200 nhà khoa học từ 175 nước thành viên của Công ước Liên hợp quốc về buôn bán quốc tế các loài động thực vật hoang dã có nguy cơ tuyệt chủng (CITES) đã tham dự Hội nghị quốc tế lần thứ 25 ở Geneva.


Hội nghị nhằm thảo luận các biện pháp siết chặt quy chế buôn bán quốc tế các loài động thực vật có nguy cơ tuyệt chủng trên toàn cầu.
Hội nghị lần này tập trung vào loài cá và các loài bò sát hiện vẫn được khai thác để sản xuất những hàng hóa xa xỉ cùng với các biện pháp siết chặt buôn bán cá mập và thực hiện các chương trình bảo vệ cá mập, những nỗ lực kiểm soát trữ lượng cá tầm ở các nước ven biển Caspian và sử dụng da các loài bò sát để sản xuất các sản phẩm da cao cấp.
Năm 2010, nhân kỷ niệm 35 năm CITES, Ban Thư ký CITES đã khai trương Đồng hồ dữ kiện buôn bán do Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP) điều hành để giám sát việc buôn bán các loài động thực vật có nguy cơ tuyệt chủng trên thế giới do các hoạt động săn bắt hoặc khai thác cạn kiệt của con người.
Đồng hồ dữ kiện này hiển thị các dữ kiện về các loài động thực vật được buôn bán quốc tế hợp pháp theo quy chế CITES vì các mục đích làm thực phẩm, y tế, nhà ở, trang phục và nghiên cứu khoa học...
Đồng hồ dữ kiện cũng hiển thị các xu hướng buôn bán quốc tế giúp các nước quyết định các loài và số lượng động thực vật được buôn bán trên phạm vi toàn cầu nhằm đảm bảo việc buôn bán này không có nguy cơ gây tuyệt chủng./.
Lê Bàng
Chuyên mục: ,