Hiển thị các bài đăng có nhãn Môi trường du lịch. Hiển thị tất cả bài đăng

500 tỷ USD cho 1 năm hoãn chống biến đổi khí hậu




Các nghiên cứu mới công bố của Cơ quan Năng lượng quốc tế (IEA) cho biết cứ mỗi năm trì hoãn các nỗ lực toàn cầu chống biến đổi khí hậu, thế giới mất thêm 500 tỷ USD đầu tư cho năng lượng sạch.

Theo số liệu của các nghiên cứu này, để giảm 50% lượng khí thải CO2 vào năm 2050, thế giới cần đầu tư tới 316.000 tỷ USD, cao hơn 17% so với tổng đầu tư thông thường hiện nay.
Tổng lượng khí thải CO2 do đốt nhiên liệu hóa thạch năm 2005 là 27,1 tỷ tấn, nhưng nếu chính sách hiện hành không được thay đổi mạnh mẽ, lượng khí thải này sẽ tăng tới 42 tỷ tấn vào năm 2030.
Vận tải hiện chiếm 25% tổng năng lượng được sử dụng và lượng khí thải liên quan đến nguồn năng lượng này nhưng nếu không thay đổi chính sách hiện hành, lượng năng lượng được ngành vận tải sử dụng cũng như lượng khí thải CO2 có liên quan sẽ tăng 50% vào năm 2030 và 80% và năm 2050.
Khí thải do sản xuất điện chiếm 40% tổng lượng khí thải toàn cầu và sẽ tăng lên 58% vào năm 2030 nếu các biện pháp chính sách mới không được thực hiện trên toàn cầu. Năng lượng gió sẽ là nguồn năng lượng tái sinh giúp giảm khí thải tăng nhanh nhất thế giới với tốc độ đã tăng 24% hàng năm từ năm 1990 đến 2005.
Các nghiên cứu cho rằng nếu các kiến nghị về sử dụng hiệu quả năng lượng của IEA với các nền kinh tế phát triển G8 được thực hiện trên toàn cầu, mỗi năm thế giới có thể giảm được 8,2 tỷ tấn CO2 từ nay đến năm 2030. Mạng năng lượng thông minh có thể giảm 0,9-2,2 tỷ tấn CO2 vào năm 2050. Công nghiệp chiếm hơn 30% tổng năng lượng được sử dụng và 40% tổng lượng khí thải CO2 trên toàn cầu.
Trong thập kỷ mới đây, hiệu quả sử dụng năng lượng trong công nghiệp đã tăng lên khiến lượng khí thải CO2 giảm mạnh, nhưng tiến triển này đã bị vô hiệu hóa cùng với tăng sản xuất công nghiệp toàn cầu.
Nghiên cứu của IEA cảnh báo nếu thế giới không có hành động quyết liệt, xu hướng này sẽ tiếp tục với lượng khí thải trong công nghiệp tăng với nhịp độ cao hơn.
Vào năm 2030, khoảng 10% phế thải nông nghiệp và lâm nghiệp toàn cầu có thể cung cấp 50% nhu cầu nhiên liệu sinh học. Kịch bản này cần được thúc đẩy trong khu vực năng lượng để góp phần giữ nhiệt độ toàn cầu không quá 2 độ C so với nhiệt độ thời kỳ tiền công nghiệp./.

Chuyên mục: ,

Biến đổi khí hậu và nỗi lo bảo vệ di sản




Biến đổi khí hậu đang gây lo lắng cho rất nhiều nhà quản lý văn hóa khi các di sản thiên nhiên, di sản văn hóa có nguy cơ biến dạng, bị phá hủy.

Trong một cuộc điều tra của Trung tâm Di sản thế giới để đánh giá mức độ của biến đổi khí hậu, 72% ý kiến cho rằng, biến đổi khí hậu tác động đến di sản thiên nhiên và văn hóa. Khảo sát đối với các di sản thế giới cho thấy, có 19 di sản bị đe dọa do băng tuyết tan, 27 di sản bị ảnh hưởng do nước biển dâng, 24 di sản bị đe dọa do lượng mưa thay đổi, hạn hán, bão tố…
Ở Việt Nam, tuy chưa có thống kê chính thức, song hầu hết các di sản ven biển sẽ bị ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu, nước biển dâng. Theo PGS. TS. Vũ Văn Tuấn, Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường, đối với các di sản chưa xuất lộ, còn bị vùi trong lòng đất có thể bị biến dạng, hiện vật bị hư hại khi nhiệt độ, độ ẩm trong lòng đất thay đổi, hoặc ngập nước. Sự gia tăng mực nước biển và hoạt động của bão vùng ven biển gây nguy hiểm, xói mòn cho các di sản ven biển, ven sông như vùng văn hóa Sa Huỳnh, Đa Bút, Quỳnh Văn…
Các di sản đã xuất lộ còn hứng chịu những tác động trực tiếp từ môi trường không khí, mưa, tác nhân hóa học, hoạt động của rêu, nấm mốc… như khu Hoàng thành Thăng Long hiện nay… "Hiện nay với điều kiện khí hậu thay đổi, trên các tường tháp của khu Thánh địa Mỹ Sơn đã phát triển nhiều loài địa y trắng ảnh hưởng nghiêm trọng đến bề mặt trang trí, chạm khắc. Mặt khác, do độ ẩm tăng cao nên các loài ký sinh như mối đất có điều kiện phát triển mạnh, rễ cây ăn sâu vào tường gạch di tích cũng sẽ ảnh hưởng đến sự bền vững của công trình", PGS. Tuấn dẫn chứng.
Khu di tích khảo cổ học Óc Eo thuộc vùng núi Sập, Ba Thê, Thoại Sơn, An Giang là di sản văn hóa của Vương quốc Phù Nam từ cách đây hơn 13 thế kỷ, được xây dựng bằng gỗ, gạch. Từ thế kỷ thứ 7, Phù Nam cũng đã bị nhấn chìm bởi nước biển lấn sâu vào đất liền cũng là một cảnh báo khi An Giang cũng đang có nguy cơ bị nước biển dâng và bị xâm nhập mặn nghiêm trọng.
Để các di sản thích ứng được với biến đổi  khí hậu, theo PGS. Vũ Văn Tuấn, cần tạo ra các vùng bảo vệ mới, mở rộng các vùng bảo vệ di sản hiện có, tạo ra bản sao của các vùng cần bảo vệ hiện có, giảm bớt áp lực môi trường trong khu vực, loại bỏ các loại sinh vật ngoại lai xâm nhập khu vực cần bảo vệ...
"Đối với các di sản văn hóa, mặc dù chúng ta có thể di chuyển chúng ra khỏi các vùng bị đe dọa như thế giới đã từng di chuyển tượng đài, vật thể kiến trúc bên bờ sông Nile, sông Dương Tử khi xây dựng đập nước... Tuy nhiên, khi bị di chyển, ý nghĩa của di sản giảm đi đáng kể nên cần cố gắng thực hiện các biện pháp tại chỗ", PGS. Vũ Văn Tuấn khuyến cáo.
Việc cần làm hiện nay là chúng ta cần sớm xác định hiện trạng di sản đồng thời đề ra khả năng giải quyết đối với từng loại di sản cho phù hợp.
Chuyên mục: ,

Hà Nội chi hơn 3 tỷ đồng để quy hoạch môi trường




Ngày 9/8, Ủy ban Nhân dân Thành phố Hà Nội quyết định dành trên 3,3 tỷ đồng để lập dự án Quy hoạch bảo vệ môi trường thành phố Hà Nội đến năm 2020, định hướng đến năm 2030.

Mục tiêu của Dự án nhằm ngăn ngừa và giảm thiểu suy thoái tài nguyên thiên nhiên, ô nhiễm môi trường, từng bước cải thiện chất lượng môi trường, nâng cao hiệu quả khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên, năng lực quản lý môi trường của thành phố Hà Nội, đảm bảo phát triển kinh tế-xã hội thành phố bền vững.
Dự án này phải phù hợp với Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội; Chiến lược Quốc gia về bảo vệ môi trường đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020; Quy hoạch tổng thể mạng lưới quan trắc tài nguyên và môi trường quốc gia đến năm 2010; Chiến lược Quốc gia về tài nguyên nước đến năm 2020; Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội đến năm 2030, tầm nhìn 2050 và Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội thành phố Hà Nội đến năm 2020, tầm nhìn 2030; Quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất của thành phố Hà Nội và các quy hoạch khác.
Sở Tài nguyên Môi trường được Ủy ban Nhân dân thành phố giao làm chủ đầu tư. Trách nhiệm của chủ đầu tư phải nghiên cứu, kế thừa, sử dụng cao nhất kết quả các dự án đã và đang thực hiện nhằm đảm bảo tính thống nhất, tính hệ thống cũng như chất lượng quy hoạch; đẩy nhanh tiến độ hoàn thành; tiết kiệm vốn đầu tư; không thất thoát lãng phí vốn đầu tư.
Đặc biệt phải lựa chọn nhà thầu đúng quy định của pháp luật để thực hiện các Dự án lập quy hoạch bảo vệ môi trường gồm Quy hoạch hệ thống công trình thu gom, xử lý nước thải tập trung của các đô thị, đặc biệt là đô thị trung tâm; các công trình thu gom, vận chuyển, xử lý, tái chế chất thải rắn; Quy hoạch hệ thống thoát nước mưa và chống úng ngập đặc biệt là đối với đô thị trung tâm; hệ thống công trình cấp nước đô thị, nông thôn và cấp nước sản xuất; hệ thống bảo vệ môi trường không khí như bụi khí, phóng xạ…; hệ thống bảo vệ môi trường đất; hệ thống mai táng; hệ thống công viên, khu vui chơi, giải trí, hệ thống cây xanh và mặt nước đô thị.

Thời gian thực hiện Dự án trong hai năm 2011-2012./.
Chuyên mục: ,

Chỉ khu bảo tồn chưa đủ để cứu đa dạng sinh học




Kể từ năm 1872, khi Vườn Quốc gia Yellowstone (Hoa Kỳ) được thành lập, hệ thống các khu bảo tồn đã nhanh chóng hình thành và phát triển rộng khắp toàn cầu. Tuy nhiên, một nghiên cứu mới đây đăng trên tờ Marine Ecology Progress Series đã chỉ ra rằng chỉ riêng các khu bảo tồn thì không thể đủ sức ngăn chặn sự mất mát đa dạng sinh học. Ngay cả với một số lượng khu bảo tồn lớn thì chúng ta vẫn cứ rơi vào cuộc đại tuyệt chủng với tỷ lệ tuyệt chủng gấp 100 lần, thậm chí là 10.000 lần so với tỷ lệ trung bình của 500 triệu năm qua.

Tính đến nay, thế giới đã ghi nhận sự ra đời của hơn 100.000 khu bảo tồn dưới hình thức vườn quốc gia, khu trú ẩn động vật hoang dã, khu dự trữ săn bắn, khu bảo tồn biển, khu bảo tồn động vật hoang dã…, chiếm khoảng 19 triệu km2 mà đa phần là trên đất liền, dù các khu bảo tồn biển cũng phát triển khá mạnh. Có rất nhiều lý do đằng sau việc thành lập các khu bảo tồn, song quan trọng nhất chính là bảo tồn các loài động, thực vật hoang dã cho các thế hệ tương lai.
“Có thể nói, mạng lưới khu bảo tồn trên thế giới là một thành tựu đáng kể mà con người đã đạt được và tốc độ đạt được thành tựu ấy cũng hết sức ấn tượng. Tuy nhiên, tốc độ gia tăng liên tiếp của mất đa dạng sinh học đã đặt ra yêu cầu phải đánh giá lại sự phụ thuộc nặng nề của chúng ta vào chiến lược này” – Tiến sĩ Peter F. Sale, Phó Giám đốc Viện Nước, Môi trường và Sức khỏe (có trụ sở tại Canada) thuộc trường Đại học Liên Hợp quốc, đồng tác giả nghiên cứu, cho hay.
Mặc dù vai trò của hệ thống khu bảo tồn thực sự quan trọng, song loài người chúng ta vẫn cần phải giải quyết những vấn đề cơ bản về hiện tượng gia tăng dân số và tình trạng tiêu thụ quá mức nếu muốn có cơ hội duy trì sự sống trên Trái đất và tạo dựng một hành tinh có thể tồn tại cho con cái chúng ta.
Bấp bênh từ phía khu bảo tồn
Theo các tác giả thì việc chỉ tập trung vào các khu bảo tồn để duy trì đa dạng sinh học bộc lộ nhiều thiếu sót, nhất là khi chúng ta còn cách xa mục tiêu tối thiểu – bảo tồn 30% môi trường sống trên cạn và dưới biển – nhằm giữ gìn được các đặc tính đa dạng sinh học toàn cầu. Hiện tại, chỉ có 5,8% diện tích đất liền và 0,08% diện tích đại dương nằm ở dạng khu bảo tồn.
Đáng lưu ý là không phải bất kỳ khu bảo tồn nào cũng được thành lập vì động cơ tốt đẹp. Nhiều nơi vẫn cho phép các hoạt động thiếu bền vững diễn ra trong phạm vi khu bảo tồn. Thêm nữa, phần lớn các khu bảo tồn trên cạn (60%) có quy mô quá nhỏ – dưới 1 km2 – để có thể cứu trợ các loài di cư hoặc loài lớn. Và hầu hết các khu bảo tồn đều chưa liên kết tốt với nhau để hỗ trợ sự di chuyển của những quần thể động, thực vật trong bối cảnh biến đổi khí hậu đang ngày một trầm trọng hơn.
Đặc biệt, hệ thống khu bảo tồn cũng không thể hóa giải được mọi đe dọa đối với các loài. Tuy tạo ra vùng đệm, bảo vệ các loài khỏi tình trạng mất nơi cư trú và khai thác quá mức, nhưng khu bảo tồn chưa thành công trong việc cứu loài ra khỏi những tác động khác như biến đổi khí hậu, ô nhiễm, loài xâm lấn…
Sau cùng là hệ lụy xuất phát từ khoản đầu tư tài chính quá ít ỏi mà các chính phủ dành cho công tác quản lý của các khu bảo tồn. Nghiên cứu cho biết các khu bảo tồn trên thế giới hàng năm đều thiếu tới 18 tỷ USD: nhiều gấp 3 lần con số chi dùng cho công tác quản lý khu bảo tồn (6 tỷ USD). Hoạt động quản lý lỏng lẻo đã vô tình mở ra cánh cửa cho một loạt tác động của con người, bao gồm săn trộm, khai thác gỗ trái phép, phá hủy môi trường sống, đánh bắt cá trái phép… Thiếu vốn, quản lý lỏng lẻo và tham nhũng đồng nghĩa với việc nhiều khu bảo tồn sẽ chỉ là “những khu bảo tồn trên giấy”.
“Ta đang đặt tất cả số trứng trong một cái rổ tiềm ẩn nhiều rủi ro, và nguy hiểm hơn là dưới đáy rổ đã bị thủng một lỗ” – Camilo Mora thuộc Đại học Hawaii tại Manoa, đồng tác giả nghiên cứu, khẳng định.
Tương lai của nhiều khu bảo tồn trên Trái đất cũng hết sức bấp bênh. Khi dân số tăng lên – chạm mốc 7 tỷ năm 2011 và dự đoán đạt 9 tỷ vào năm 2035, nhu cầu đối với các nguồn tài nguyên tăng theo, nhiều chính quyền có thể sẽ nhắm tới nguồn tài nguyên trong các khu bảo tồn. Khuynh hướng ấy đã xuất hiện ở nhiều quốc gia.
Đơn cử, Tanzania đang thu hẹp Khu dự trữ săn bắn Selous để khai thác urani. Campuchia hiện đang giao 50.000ha đất thuộc Vườn Quốc gia Viracehy cho các đồn điền cao su và các dự án phát triển khác, cơ bản đã thu hẹp khu bảo tồn này tới 16%. Những con đường gây tranh cãi có thể đưa đến nhiều tác động tiêu cực đang được lên kế hoạch triển khai trong các khu bảo tồn ở Serengeti, Lào, Việt Nam và Sumatra.
Suốt nhiều thập kỷ, Hoa Kỳ cũng đã tranh luận về sự xuống cấp của Khu trú ẩn Quốc gia cho Động vật hoang dã vùng Bắc cực (ANWR) khi cho phép hoạt động khoan dầu. Đến nay, khu trú ẩn ANWR vẫn an toàn, nhưng điều đó còn có thể tiếp tục tái diễn. Một khi chi phí lương thực tăng, nhiều khả năng xung đột giữa đất nông nghiệp và đất trong các khu bảo tồn cũng tăng lên. Không thể hy vọng rằng những khu bảo tồn hiện đang tồn tại tương lai sẽ không thay đổi.
Đâu mới là mấu chốt?
Vấn đề dân số và tiêu thụ chính là những mấu chốt thực sự phải được giải quyết nhằm ngăn chặn sự tuyệt chủng hàng loạt. Ngày nay, con người đã tác động tới hơn 80% diện tích đất trên thế giới và 100% các đại dương. Khoảng 40% bề mặt Trái đất bị “ảnh hưởng mạnh” bởi sức tiêu thụ của chúng ta.
Hiện tượng bùng nổ dân số trong thế kỷ qua dẫn tới nhu cầu ngày càng tăng đối với các nguồn tài nguyên sinh học và một sự sụt giảm nhanh chóng các mức độ đa dạng sinh học. Theo ước tính thì chỉ đến năm 1999 đã cần có khoảng 1,2 Trái đất mới mong đáp ứng được nhu cầu đa dạng của 5,9 tỷ người đang sống trên hành tinh. Và việc “ăn lạm” vào các nguồn tài nguyên là điều dễ hiểu vì thời gian khai thác tài nguyên nhanh hơn khoảng thời gian chúng được phục hồi hoặc thay thế, trong khi chất thải lại được tích lũy (chẳng hạn như CO2 trong bầu khí quyển).
Dựa trên lý lẽ đó, các tác giả đi tới kết luận rằng nếu xã hội tiếp tục “bóc lột” triệt để nơi chúng ta đang sống thì đến năm 2050 sẽ cần 27 hành tinh như Trái đất mới có thể duy trì được mức tiêu thụ ấy.
Không đưa ra các giải pháp cụ thể, nhóm nghiên cứu chỉ đề xuất rằng xã hội phải ưu tiên cho “các giải pháp thay thế hướng tới nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ sinh thái của con người, trong khi vẫn đảm bảo sức khỏe cho con người”. Đồng thời, chúng ta cần có “những nỗ lực phối hợp nhằm giảm thiểu mức gia tăng dân số và lượng tiêu thụ, đồng thời tăng sức tải sinh học của Trái đất thông qua chuyển giao công nghệ nhằm nâng cao sản lượng nông nghiệp và nuôi trồng thủy, hải sản”.
Trên thực tế, bùng nổ dân số không chỉ là hiểm họa đối với các loài động thực vật hoang dã mà còn là hiểm họa với chính bản thân con người. Tăng dân số có thể gây ra thiếu lương thực, thiếu nước trầm trọng, điều kiện giáo dục, tình trạng cạnh tranh sinh kế khắc nghiệt và truyền nhiễm bệnh tật. Chất lượng cuộc sống toàn cầu sẽ bị đe dọa nặng nề khi dân cư ngày một đông hơn. Nếu không có những thay đổi trên diện rộng thì đa dạng sinh học sẽ mãi chỉ là một nạn nhân của tiến trình này.
“Chúng ta đang nhắc tới câu chuyện nửa thế kỷ tới, loài người có thể mất đi 50% trên tổng số loài, nhanh hơn bất cứ sự kiện tuyệt chủng lớn nào từng xảy ra trong lịch sử. Và chắc chắn những ai nghĩ rằng ta có thể vượt qua cuộc đại tuyệt chủng mà vẫn duy trì được tính bền vững đều chỉ đang cố gắng tự huyễn hoặc mình” – Tiến sĩ Sale kết luận.
Phượng Trần
Chuyên mục: ,

Vùng lan quí Sa Pa nguy cơ xóa xổ




Sa Pa có rất nhiều loài lan, chúng mọc hoang dại trong rừng. Hiện chưa thống kê được Sa Pa có bao nhiều loài lan, nhưng các nhà khoa học đã tìm thấy nhiều giống lan quí trong những cánh rừng ở Sa Pa.Ngoài việc khai thác lan hoang dại, nhiều gia đình đã trồng lan, xây dựng những vườn lan để kinh doanh. Chính việc khai thác vô tội vạ đã khiến cho vùng lan quí Sa Pa đang đứng trước nguy cơ bị xóa sổ…            

Vào những ngày chợ phiên, quanh khu vực nhà thờ thị trấn Sa Pa, hay dọc con đường từ Sa Pa xuống tận Trung Chải, Tòng Sành người dân hai bên đường bày bán những giò phong lan hoang dại với đủ màu sắc mới được khai thác trên những cánh rừng đại ngàn cho khách du lịch. Không chỉ người dân Sa Pa, bà con các dân tộc sống cạnh Vườn Quốc gia Hoàng Liên ở hai huyện Tam Đường, Tân Uyên thuộc tỉnh Lai Châu cũng khai thác hoa lan để bán. Giá mỗi giò lan chỉ từ 10.000- 25.000đ, thậm chí có giò chỉ 5.000đ, đó là những giò lan nhỏ, hoa không đẹp, màu sắc kém rực rỡ.
Vợ chồng Giàng A Lềnh, xã Bản Khoang đeo một lù cở (gùi) lan khai thác tuần qua trên rừng mang xuống chợ bán. Lềnh nói tiếng Kinh khá sõi, anh bảo tôi: Cây hoa này à? Ngày trước thì có nhiều đấy, rừng nào cũng có. Bây giờ ít rồi, vì mọi người ở thôn bản mình ai cũng lấy đem bán nên không còn nhiều đâu. Phải đi xa vào tận trong rừng sâu, trèo lên cành cao mới lấy được đấy. Khó lắm… Hỏi ra mới biết, bây giờ đang vào mùa giáp hạt, vợ chồng Lềnh rủ nhau lên rừng gần cả tuần nay mới kiếm được lù cở lan này mang xuống chợ bán lấy tiền đong gạo. Tôi đếm có khoảng hơn hai chục giò, toàn giò nhỏ, chưa giò nào có nụ, nếu bán hết số lan kia chắc cũng chỉ được hai trăm ngàn đồng. Xem ra cũng khó bán lắm, nhiều người đến hỏi chơi chơi vài câu rồi đi.
Hôm nay thứ bảy, chưa đông khách du lịch nên cũng chỉ có năm, sáu người bán hoa lan, nghe mấy bà bán hàng ở đây thì chủ nhật mới đông người bán. Bà con từ trên núi xuống, người gùi kẻ vác tha hồ mà chọn. Trước đây có nhiều, bây giờ cũng ít rồi, nhiều hôm gặp khách ở Hà Nội, Hải Phòng… mua hàng bao tải, họ chất đầy thùng xe ô tô. Không ít khách hàng là người Trung Quốc, họ chọn kỹ lắm… Phong lan chẳng có giá bằng địa lan, nhiều chậu lan ở đây giá từ chục triệu đến vài chục triệu. Chứ mấy giò lan kia bán ra chỉ đủ ăn vài bát phở. Đối với bà con mấy chục ngàn cũng là quí lắm rồi…
Theo báo cáo của VQG Hoàng Liên, trong khu vực vườn quản lý có 250 loài phong lan phân bố tự nhiên trong rừng, nhiều loài lan quý hiếm như­: Hồng thảo Sa Pa, Hồng huyền, Tân thanh củ bóng, Hài kép, Hài đốm, Hồng hoàng, Kim điệp, Hoàng thảo u lồi… Một số loài lan quí hiếm sống ở độ cao từ 1.500-2.000m, đó là các loài Lan hài, Lan môi dày, Gấm đất…Một số loài sống trên độ cao trên 2.000m gồm: Thanh đạm nhăn, Hoàng thảo trúc bạch và một số loài lan loọng… Một số loài lan được người dân mua về trồng kinh doanh, nhiều nhất vẫn là địa lan (loài lan mọc trên đất), gồm: Lan sứa Sa Pa, Gấm đất Nhật, Kiếm hồng hoàng Sa Pa, Hoàng thảo long nhãn (Kiếm cò râu, Kiếm cò đỏ), Lan sậy và các giống lan hài…
Tất cả những loài lan có mặt trên các cánh rừng Sa Pa đều được người dân khai thác bán cho khách du lịch, không ít loài lan đặc hữu của VQG Hoàng Liên, có tên trong Sách đỏ Việt Nam và thế giới đang được các du khách Trung Quốc săn lùng ráo riết. Tình trạng khai thác lan rừng hoang dại một cách vô tội vạ đã khiến nhiều loài lan quí hiếm trước nguy cơ bị xóa sổ.
Chuyên mục: ,