Hiển thị các bài đăng có nhãn Du lịch bền vững. Hiển thị tất cả bài đăng

Du lịch có trách nhiệm với môi trường và xã hội: Mở ra cơ hội cho người nghèo và phụ nữ




Du lịch có trách nhiệm sẽ tạo cơ sở để ngành Du lịch đạt hiệu quả cao hơn, có tính cạnh tranh và bền vững hơn, đồng thời quan tâm hơn đến vấn đề bình đẳng giới, mở ra nhiều cơ hội cho người nghèo và phụ nữ, đảm bảo sự tham gia của cộng đồng dân tộc thiểu số.
Đây là mục tiêu của dự án “Chương trình phát triển năng lực du lịch có trách nhiệm với môi trường và xã hội” (ESRT) do Liên minh châu Âu (EU) tài trợ. Ngày 28.7, Tổng cục Du lịch (Bộ VHTTDL) và UBND tỉnh Hà Giang đã phối hợp tổ chức hội thảo xây dựng kế hoạch và triển khai dự án này.
Ngân sách của dự án là 12,1 triệu euro, trong đó EU đóng góp 11 triệu euro và vốn đối ứng của Chính phủ Việt Nam là 1,1 triệu euro được thực hiện từ năm 2011- 2015.
Theo ông Vũ Quốc Trí, Giám đốc Dự án ESRT, ngoài việc góp phần phát triển kinh tế - xã hội, dự án còn cung cấp nhiều dịch vụ du lịch có trách nhiệm với môi trường và xã hội.
Với 28 hoạt động chính ở 3 hợp phần: hỗ trợ chính sách và tăng cường thể chế; năng lực cạnh tranh sản phẩm và quan hệ đối tác công - tư; giáo dục và đào tạo nghề, chương trình kỳ vọng sẽ làm thay đổi phần lớn cách làm và chất lượng du lịch ở những tỉnh miền núi phía Bắc và thực hiện thành công Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam.
Nhận thức về du lịch và tầm quan trọng của ngành này trong nền kinh tế quốc dân dù đã có nhiều thay đổi nhưng đến nay vẫn chưa được hiểu một cách đúng đắn.
Hầu như cả người dân lẫn quan chức nhiều nơi đều cho rằng đây là “ngành ăn chơi, tiêu pha, nhàn rỗi...”. Thậm chí, nhiều người còn cho rằng, “du lịch chưa phát triển, văn hóa, phong tục tập quán, cảnh quan thiên nhiên, di tích di sản còn giữ được, có du lịch rồi, mất hết”.
Trong khi đó, trong nhiều năm trở lại đây, du lịch luôn đứng trong số 5 ngành hàng xuất khẩu, dịch vụ có thu nhập cao nhất. Năm 2011, ngành Du lịch dự kiến doanh thu 110.000 tỉ đồng (chiếm 4,5% GDP).
Vì thế, chương trình ESRT được thiết kế để lồng ghép các hoạt động du lịch có trách nhiệm với môi trường và xã hội vào tất cả các khía cạnh của chính sách, quy hoạch, quản lý điểm đến, hoạt động kinh doanh, giáo dục và nâng cao nhận thức về du lịch ở cấp quốc gia, khu vực và tỉnh, thành.
Đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý du lịch từ trung ương đến địa phương sau khi hưởng lợi từ dự án phải có đủ năng lực trong việc hoạch định chính sách, quy hoạch và quản lý du lịch có trách nhiệm với môi trường và xã hội.
Tính hiệu quả của mối quan hệ đối tác giữa khu vực công và khu vực tư nhân trong hoạt động du lịch được nâng cao. Hệ thống đào tạo nghề du lịch, bao gồm hệ thống Tiêu chuẩn kỹ năng nghề Du lịch Việt Nam (VTOS) tiếp tục được duy trì và mở rộng.
Hiện nay, trong số các tỉnh miền núi phía Bắc, Hà Giang đang có lợi thế lớn là một điểm đến mới, văn hóa đa dạng và cảnh quan thiên nhiên cực kỳ hùng vĩ. Việc tham gia vào dự án EU lần này sẽ là cơ hội để Hà Giang phát triển các thế mạnh về du lịch của mình và quảng bá Hà Giang ra thế giới qua hình ảnh Công viên địa chất toàn cầu đầu tiên của Việt Nam- công viên đá Đồng Văn.
Giống như nhiều tỉnh, thành khác trên cả nước, hiện nay Hà Giang đang phải chịu nhiều sức ép giữa việc phát triển kinh tế, xã hội, sinh sống của người dân, biến đổi khí hậu... và bảo tồn di sản, bảo vệ môi trường, cảnh quan.
Đâu đó ở công viên đá Đồng Văn vẫn còn những cảnh khai thác đá làm đường, làm nhà của người dân. Những cảnh tượng ấy chỉ có thể thay đổi hoặc ít đi khi ý thức trách nhiệm của mỗi cá nhân được nâng cao. Và họ, những người dân bản địa, với ý thức và hành động của mình, có thể quyết định sự yếu kém hay mạnh mẽ của du lịch của mảnh đất mình đang sống.
Các chuyên gia của EU cho rằng, Việt Nam hiện nay có nhiều loại hình du lịch khác nhau có thể lồng ghép để mang lại lợi ích cho người dân vùng sâu, vùng xa, người dân tộc thiểu số và phụ nữ.
Du lịch hiện vẫn được xác định là ngành có thể có bứt phá ngoạn mục trong khu vực dịch vụ.
Chương trình ESRT sẽ tạo thêm nhiều việc làm và thu nhập, góp phần xóa đói giảm nghèo cho người dân nhiều tỉnh của Việt Nam. Thông qua việc xây dựng khung chính sách hiệu quả, dự án sẽ góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của Việt Nam, phục vụ phát triển du lịch bền vững.
Ngày 29.7, các chuyên gia EU, lãnh đạo Tổng cục Du lịch, đại diện các tỉnh, thành sẽ khảo sát 4 huyện của Hà Giang là Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc để đánh giá xác thực hơn về sự tham gia của cộng đồng, người dân tộc thiểu số và phụ nữ trong phát triển du lịch; xây dựng các sản phẩm du lịch đặc trưng ở Hà Giang.
Đinh Hải Anh

Nguồn: Báo Văn hóa
Chuyên mục: ,

Quản lý phương tiện thủy nội địa phục vụ du lịch: Địa phương phải vào cuộc mạnh mẽ

Hoạt động kinh doanh vận chuyển khách du lịch bằng tàu thuyền ở Việt Nam đang có xu hướng phát triển mạnh.

Tuy nhiên, sự phối hợp của các cơ quan quản lý nhà nước và các địa phương chưa chặt chẽ đã dẫn đến tình trạng phương tiện không đảm bảo an toàn, không có giấy phép vẫn hoạt động, gây ra những tai nạn nghiêm trọng, ảnh hưởng không tốt đến hình ảnh du lịch Việt Nam.
Thống kê của Cục Đường thủy nội địa và Cục Đăng kiểm (Bộ GTVT) cho thấy, hiện cả nước có gần 34.000 tàu thuyền, có 33.788 chiếc đã vào đăng kiểm và phần lớn tham gia chở khách, chỉ 2.112 tàu phục vụ du lịch, trong đó có lưu trú du lịch 172 chiếc, 64 nhà hàng nổi, 1.684 tàu chở khách du lịch theo tiếng... Còn nếu tính tàu chở khách qua sông, bè, thuyền gia đình thì phải hơn 100.000 chiếc.
Cần tiếp tục tăng cường phối hợp giữa cơ quan quản lý các cấp và các địa phương, qui định rõ thẩm quyền và trách nhiệm của các cơ quan này trong quản lý phương tiện thủy phục vụ du lịch. Các địa phương cần tích cực vào cuộc mạnh mẽ hơn để hoạt động kinh doanh du lịch bằng phương tiện thủy nội địa được an toàn, hiệu quả. (Thứ trưởng Bộ VHTTDL Hồ Anh Tuấn)
Thế nhưng 36/63 Sở VHTTDL khi báo cáo về Tổng cục Du lịch những hoạt động du lịch thủy thì tổng số phương tiện tham gia hoạt động du lịch đường thủy là 11.299 chiếc (lưu trú là 183 chiếc, phương tiện vận chuyển là 11.052 chiếc, nhà hàng nổi là 64 chiếc), đã đăng kiểm là 1.757 chiếc. Tổng số chưa được cấp phép là 9.013 chiếc, chủ yếu là thuyền nhỏ.
Trong khi đó, Tiêu chuẩn Việt Nam về phân loại, xếp hạng tàu, thuyền lưu trú du lịch, vận chuyển du lịch chậm được ban hành. Hiện Bộ GTVT và Bộ VHTTDL đang phối hợp xây dựng Thông tư liên tịch về đảm bảo an toàn giao thông trong hoạt động du lịch, trong đó có an toàn giao thông trong hoạt động du lịch của các phương tiện tàu, thuyền phục vụ du lịch.
Trong cuộc họp với các cơ quan trực thuộc Bộ VHTTDL và Bộ GTVT vừa qua, Thứ trưởng Hồ Anh Tuấn đặc biệt nhấn mạnh việc đẩy nhanh tiến độ xây dựng và trình duyệt Thông tư này vì việc ra đời của Thông tư là giải pháp thiết thực góp phần thúc đẩy tăng trưởng an toàn và bền vững trong du lịch.
Thứ trưởng Hồ Anh Tuấn yêu cầu Tổng cục Du lịch và các cơ quan liên quan trực thuộc Bộ VHTTDL (quản lý chất lượng dịch vụ du lịch và chứng chỉ nghiệp vụ du lịch) đẩy mạnh phối hợp với các Bộ GTVT (cấp phép thiết kế kỹ thuật phương tiện và cấp giấy chứng nhận đăng kiểm), UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (cấp phép bến bãi và cấp phép kinh doanh), Bộ Công thương (cấp phép kinh doanh dịch vụ), Bộ Công an (cấp phép an toàn phòng cháy chữa cháy), Bộ Tài nguyên và Môi trường (cấp phép xử lý chất thải và bảo vệ môi trường), Bộ Y tế và Bộ  Công thương (cấp giấy chứng nhận về an toàn vệ sinh thực phẩm).
Trên thực tế, trước khi tham gia kinh doanh du lịch, các tàu, thuyền phải đạt đủ các tiêu chuẩn là tàu, thuyền chở khách. Ngành Du lịch chỉ cấp giấy phép cuối cùng về đăng ký kinh doanh du lịch. Tuy nhiên, khi xảy ra sự cố hoặc tai nạn nào đó, ngành Du lịch chịu sức ép và sự phán xét của dư luận nhiều nhất chỉ vì khách đi trên tàu, thuyền gặp nạn là khách du lịch.
Dự kiến đến tháng 9, Vụ Đào tạo (Bộ VHTTDL) sẽ hoàn thiện và triển khai kế hoạch đào tạo, tập huấn cho đội ngũ nhân viên, phục vụ trên tàu thuyền du lịch. Hiện nay, chất lượng đội ngũ nhân viên làm việc trên tàu thuyền du lịch mới ở mức phổ cập, đa phần chỉ đáp ứng về hình thức còn thiếu nhiều lao động có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ du lịch và ngoại ngữ. Hầu hết nhân viên trên tàu, thuyền phục vụ du lịch không có chứng chỉ về sơ cứu y tế. Khả năng cứu hộ khách bằng đuối nước hạn chế. Số lượng thuyền viên và nhân viên phục vụ trên tàu, thuyền hiện mới chỉ đáp ứng định biên cho một ca làm việc (8h/ngày), nhưng trong thực tế họ phải làm việc độc lập, xa đất liền khoảng 25 tiếng liên tục, dẫn đến quá tải, thiếu ngủ, thiếu hẳn lực lượng trực ca 2, ca 3.
Thúy Hà
Chuyên mục: ,

Thách thức trong xử lý úng ngập ở thành phố Huế




Úng ngập trong mùa mưa lũ đã đành, hiện nay chỉ cần một trận mưa lớn là nhiều tuyến đường ở thành phố Huế (tỉnh Thừa Thiên - Huế) chìm trong biển nước; nặng nhất là các tuyến đường ở nội thành, nơi có nhiều công trình thuộc hệ thống di tích Cố đô Huế.

Để giải quyết bài toán thoát lũ ở Huế, hai vấn đề cần phải được quan tâm đó là: chỉnh trị sông Hương và thoát nước bề mặt của đô thị Huế. Hiện, trên sông Hương, dòng chảy bị cản trở bởi các công trình ngăn mặn như Đập Đá, cửa Khâu, đập La Ỷ…và công trình đập ngăn mặn Thảo Long ở phía hạ nguồn. Nhiều ý kiến cho rằng, ở thời điểm này, việc ngăn mặn ở Huế chỉ cần đập Thảo Long là đủ, việc duy trì các công trình khác trên sông Hương là không cần thiết, chỉ làm tắc nghẽn dòng chảy sông Hương mà thôi.
Cùng với việc khơi thông dòng chảy sông Hương, quá trình đô thị hóa đã làm cho hệ thống thoát nước bề mặt của Huế đã không còn phù hợp. Nhiều vùng dân cư trước đây không bao giờ biết đến ngập lụt thì nay mới mưa đã ngập úng. Và bản đồ vùng ngập úng ngày càng mở rộng kèm theo quá trình đô thị hóa. Bởi, việc đầu tư phát triển đô thị ở Huế cũng đồng nghĩa với nhiều ao hồ, vốn là nơi thoát nước tự nhiên trước đây bị lấp nên việc chống ngập úng cho thành phố hết sức cấp thiết. Theo tính toán, hệ thống thoát nước thành phố Huế hiện chỉ có 100 km đường cống hỗn hợp và khoảng 50 km dựa vào sông và ao, hồ; tất cả chỉ mới đáp ứng được 25-30% yêu cầu thoát nước. Trước thực trạng đó, thành phố Huế đang triển khai thực hiện dự án cải thiện môi trường nước, với tổng mức đầu tư hơn 24 tỷ yên Nhật, tương đương khoảng 3.170 tỷ đồng VN; trong đó, Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) tài trợ hơn 20,88 tỷ yên.
Ông Nguyễn Văn Thành, Phó Chủ tịch Thường trực UBND thành phố Huế, Giám đốc Ban Quản lý dự án cho biết: Giai đoạn 1 của dự án bắt đầu triển khai thi công trong vòng 8 năm, kể từ năm 2011, trong phạm vi thi công thuộc 12 phường ở khu vực phía Nam thành phố với diện tích 1.010 ha, phục vụ cho gần 146 ngàn người. Ở giai đoạn này, dự án tập trung cải tạo, xây mới gần 299 km hệ thống cống thoát nước hỗn hợp (thu gom nước mưa và nước thải) và 8 trạm bơm. Ngoài việc chống úng ngập cho thành phố, nước thải từ hệ thống thoát nước hỗn hợp được tách ra tại 96 giếng tách, đưa về nhà máy xử lý nước thải với công suất 20 ngàn m3/ngày đêm trên diện tích 9,5 ha tại phường An Đông và được xử lý bằng công nghệ bùn hoạt tính. Theo tính toán, sau khi nhà máy xử lý nước thải đi vào hoạt động, có khoảng 70% lượng nước thải sinh hoạt được xử lý, góp phần khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường. Giai đoạn 2 của dự án sẽ được thực hiện tại khu vực phía Bắc thành phố Huế sau khi giai đoạn 1 kết thúc; khi đó, sẽ có 400 ngàn người dân sống trên địa bàn thành phố Huế được hưởng lợi từ dự án này...
Chuyên mục:

Hưởng ứng Chiến dịch làm cho thế giới sạch hơn năm 2011




Chủ đề của Chiến dịch làm cho thế giới sạch hơn năm 2011 là “Nơi sinh sống của chúng ta… Hành tinh của chúng ta… Trách nhiệm của chúng ta” (Our Place… Our Planet… Our Responsibility). Hưởng ứng Chiến dịch này, Bộ Tài nguyên và Môi trường đề nghị trển khai các chương trình, dự án về bảo vệ môi trường, tập trung, tái chế, xử lý chất thải, cải thiện môi trường,..

Các hoạt động hưởng ứng Chiến dịch làm cho thế giới sạch hơn năm 2011 sẽ được tổ chức trên toàn cầu từ ngày 16 đến 18/9.
Tại Việt Nam, Bộ Tài nguyên và Môi trường phối hợp với Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và UBND thành phố Hồ Chí Minh tổ chức Lễ phát động quốc gia hưởng ứng Chiến dịch làm cho thế giới sạch hơn năm 2011 dự kiến tổ chức ngày 17 /9 tại thành phố Hồ Chí Minh. Đây là địa bàn trọng điểm kinh tế của cả nước, tập trung đông dân cư và các cơ sở sản xuất công nghiệp, thương mại và dịch vụ lớn, vấn đề môi trường đang được các cấp ủy Đảng, chính quyền và nhân dân hết sức quan tâm.
Để thiết thực hưởng ứng Chiến dịch làm cho thế giới sách hơn năm 2011, Bộ Tài nguyên và Môi trường đề nghị các Bộ, ngành, cơ quan, đơn vị… tổ chức chiến dịch tuyên truyền, vận động, giáo dục cán bộ và người dân nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường; tạo dư luận và áp lực xã hội lên án những hành vi gây ô nhiễm môi trường, vi phạm phát luật bảo vệ môi trường; tuyên truyền. 
Đồng thời  phổ biến và khuyến khích sử dụng công nghệ, sản phẩm thân thiện với môi trường, ít tiêu hao nhiên liệu, hạn chế sử dụng nguồn nguyên, nhiên liệu có phát sinh khí thải gây hiệu ứng nhà kính, gây ô nhiễm môi trường…
Bên cạnh đó, cần tổ chức các hoạt động cụ thể như ra quân làm vệ sinh môi trường trên địa bàn dân cư, cơ quan, đơn vị, trường học, cơ sở sản xuất, kinh doanh, khơi thông dòng chảy, nạo vét kênh mương, hệ thống thoát nước… diễu hành, cổ động về bảo vệ môi trường...
Bộ cho biết, những cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức có nhiều thành tích trong bảo vệ môi trường và phát triển bền vững sẽ được biểu dương khen thưởng. Đối với những trường hợp xuất sắc, các đơn vị lập hồ sơ gửi Bộ Tài nguyên và Môi trường xem xét trao tặng bằng khen và giải thưởng.
Chiến dịch làm cho thế giới sạch hơn do Australia khởi xướng từ năm 1993 và được Chương trình môitrường Liên Hợp Quốc phát động trên phạm vi toàn cầu.
Được tổ chức vào tuần thứ 3 của tháng 9 hàng năm, Chiến dịch trở thành một trong những sự kiện môi trường quốc tế thường niên quan trọng, thu hút sự tham gia hưởng ứng của hàng trăm triệu người và hơn 120 quốc gia trên thế giới.
Việt Nam tham gia hưởng ứng Chiến dịch làm cho thế giới sạch hơn từ năm 1994. Thông qua các hoạt động hưởng ứng Chiến dịch, nhận thức của cộng đồng về bảo vệ môi trường được nâng lên rõ rệt.
Chuyên mục:

Việt Nam sẽ tổ chức ngày Quốc tế hổ




Thông tin từ Quỹ bảo vệ thiên nhiên quốc tế tại Việt nam cho biết ngày 29/7 tới, Việt Nam sẽ tổ chức lễ kỷ niệm ngày Quốc tế hổ tại Công viên Thống Nhất – Hà Nội. Đây là hoạt động thường niên của các tổ chức WWF, Cục Bảo tồn Đa dạng Sinh học và TRAFFIC.

Ngoài Việt Nam, 13 quốc gia khác vẫn còn loài hổ sinh sống cũng sẽ thực hiện nhiều hoạt động bảo tồn và thu hút sự chú ý của công chúng đối với sự cấp thiết phải bảo tồn loài thú quý hiếm hiện đang trên bờ tuyệt chủng. Mục tiêu cụ thể đến năm 2022, số lượng hổ trong tự nhiên sẽ được nhân đôi từ 3,200 thành 6,400 cá thể.
Theo báo cáo công bố năm 2010 của Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên (ENV), Việt Nam hiện chỉ còn dưới 30 cá thể hổ hoang dã đang phân bố rải rác ở một số vườn quốc gia, khu bảo tồn và vùng biên giới ở các tỉnh miền Trung. Theo thống kê cùng năm của Cục cảnh sát môi trường Bộ Công an, cả nước chỉ còn 95 cá thể hổ đang được nuôi nhốt trong trang trại, vườn thú và rạp xiếc. Việt Nam đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng về hổ. Trong khi đó, trên thế giới trong 100 năm qua số lượng hổ đã giảm 97% và hiện chỉ còn khoảng 3.200 con hổ còn sống trên thế giới. Các nhà khoa học cảnh báo hổ có thể tuyệt chủng trong vòng 12 năm tới.

Chuyên mục:

Phát triển du lịch có trách nhiệm với môi trường

Dự án phát triển năng lực du lịch có trách nhiệm với môi trường và xã hội (ESRT) sẽ được thực hiện trong 5 năm (2011-2015). Theo Trưởng nhóm Tư vấn Dự án ESRT Jan Bjarnason, “mục tiêu cơ bản của Dự án này là nhằm đưa các nguyên tắc du lịch có trách nhiệm vào ngành du lịch Việt Nam, để nâng cao khả năng cạnh tranh và góp phần triển khai thành công kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội của chính phủ; đồng thời tăng cường các dịch vụ du lịch có trách nhiệm với môi trường và xã hội như một phần chiến lược ngành cho du lịch Việt Nam.”

Hướng dẫn viên giới thiệu với du khách đặc sản trái cây miệt vườn Vĩnh Long (Ảnh: ChiLê/Vietnam+)
Hội thảo lần đầu tiên về Dự án được xây dựng trên cơ sở thành công của Dự án phát triển nguồn nhân lực du lịch do EU tài trợ (2004-2010)  này vừa được tổ chức  tại Hà Nội hôm nay, 22/7.
Nâng cao ý thức để phát triển bền vững
Trên thực tế Việt Nam hiện nay, một trong những vấn đề quan trọng cần làm ngay để có thể phát triển bền vững du lịch chính là việc cần phải nâng cao ý thức trách nhiệm mỗi cá nhân đối với các hoạt động liên quan tới bảo vệ môi trường.
Đại sứ, Trưởng phái đoàn Liên minh châu Âu tại Việt Nam Sean Doyle đánh giá: “Trong sự hợp tác phát triển này, chúng tôi muốn quan tâm nhiều hơn tới vấn đề ý thức trách nhiệm về môi trường và xã hội. Hiện nay chúng ta đang chịu nhiều sức ép lớn từ việc biến đổi khí hậu, nên trong du lịch đặc biệt cần phải nâng cao ý thức trách nhiệm mỗi cá nhân để có thể đảm bảo phát triển bền vững về môi trường, về an toàn lương thực thực phẩm… Vì những yếu tố đó có thể góp phần tác động tích cực hay tiêu cực tới sự phát triển của du lịch tại Việt Nam.”
Ông Sean Doyle cũng cho rằng, đây là một dự án tổng thể và phức tạp có sự góp mặt của các đối tác “nặng ký” sẽ giúp Việt Nam tiếp cận được nhiều tiêu chí về mặt quản lý người lao động trong lĩnh vực du lịch.
Chính vì thế, mục tiêu trong khuôn khổ dự án sẽ tập trung vào một số lĩnh vực nhất định như xóa đói giảm nghèo, các vấn đề liên quan tới bình đẳng giới cũng như sự tham gia của phụ nữ trong lĩnh vực du lịch.
"Sức mạnh và cũng là thế mạnh của du lịch Việt Nam hiện nay là có rất nhiều loại hình hoạt động khác nhau có thể lồng ghép để mang lại những lợi thế, lợi ích cho những người dân sống ở vùng sâu vùng xa, hay những người dân tộc thiểu số… Chúng tôi đặc biệt quan tâm tới sự tham gia của lực lượng lao động nữ giới vào các hoạt động du lịch,” vị Đại sứ nhấn mạnh.
Và thực tế thời điểm này, Liên minh châu Âu đã sẵn sàng để thực hiện dự án phát triển năng lực du lịch có trách nhiệm với môi trường và xã hội, hỗ trợ tích cực Việt Nam trong lĩnh vực du lịch vì đó là lĩnh vực năng động của Việt Nam hiện nay.
Cơ hội cho người nghèo
Dự án ESRT là chương trình xây dựng năng lực cho tất cả các đối tác chính trong ngành du lịch, được thiết kế nhằm lồng ghép các thông lệ du lịch có trách nhiệm vào tất cả các khía cạnh chính sách, quy hoạch, quản lý điểm đến, hoạt động kinh doanh, giáo dục và nâng cao nhận thức ở cấp quốc gia, cấp khu vực và cấp tỉnh.
Theo đó, các nguyên tắc du lịch có trách nhiệm sẽ tạo nền tảng cho việc xây dựng ngành du lịch bền vững hơn, cạnh tranh hơn và năng suất hơn, từ đó mở ra cơ hội cho những người nghèo và các nhóm thiệt thòi như phụ nữ và các dân tộc thiểu số.
Dự án cũng gắn kết hài hòa với các chương trình của các nhà tài trợ khác và các cơ quan phát triển đang hoạt động trong ngành du lịch ở Việt Nam.
Về phần Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, “với cam kết đóng góp 11 triệu Euro và thời gian triển khai các hoạt động kéo dài trong 5 năm, Bộ đánh giá cao và rất coi trọng sự hỗ trợ kỹ thuật quý báu, kịp thời của Liên minh châu Âu dành cho du lịch Việt Nam trong bối cảnh ngành này tiếp tục được xác định là vùng sản xuất quan trọng tạo bước đột phá để phát triển vượt bậc khu vực dịch vụ.
Chương trình cũng tạo ra nhiều cơ hội việc làm và thu nhập, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu đề ra trong kế hoạch phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2011-2015, và chiến lược phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn 2011-2020,” Thứ trưởng Hồ Anh Tuấn phát biểu.
Để có thể phát triển đột phá như ông Tuấn nói, trong giai đoạn tới dự kiến ngành sẽ tập trung phát triển du lịch theo hướng có chất lượng cao, trên cơ sở đa dạng hóa và nâng cao tính cạnh tranh giữa các sản phẩm du lịch, cùng với việc tạo ra thu nhập và nhiều cơ hội việc làm cho xã hội, góp phần xóa đói giảm nghèo.
“Đặc trưng của phát triển du lịch Việt Nam sẽ là phát triển bền vững, có trách nhiệm với môi trường và xã hội. Do vậy việc triển khai Dự án sẽ góp phần quan trọng thực hiện mục tiêu chiến lược của ngành du lịch, đặc biệt là tăng cường năng lực thể chế,” ông Tuấn khẳng định.
Ông Tuấn cũng bày tỏ tin tưởng: “Kết quả triển khai dự án sẽ có tác động tích cực đến tăng cường năng lực quản lý du lịch thông qua việc xây dựng một khung chính sách hiệu quả hơn, góp phần bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa Việt Nam, phục vụ cho phát triển du lịch”./.
ChiLê
Chuyên mục: